Wednesday, 14 April 2010

Quản lý nhà nước với việc giúp VACPA hướng đến mục tiêu ngang tầm khu vực và quốc tế

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC GIÚP VACPA HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU NGANG TẦM KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ

TS Hà Thị Ngọc Hà – Phó Vụ trưởng

Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính

TS Hà Thị Ngọc Hà

1/ Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trên thế giới:

Trong điều kiện kinh tế thị trường, BCTC của doanh nghiệp phải trung thực, minh bạch và công khai vì liên quan đến lợi ích, nghĩa vụ của nhiều nhà đầu tư. Để góp phần đảm bảo yêu cầu trên, những người hành nghề kế toán, kiểm toán đã lập ra tổ chức nghề nghiệp độc lập để thực hiện trách nhiệm đào tạo, xác nhận năng lực, cung cấp thông tin và quản lý đạo đức nghề nghiệp những người hành nghề này. Nhờ đó uy tín, danh tiếng của những người hành nghề ngày càng được nâng cao, không chỉ được từng nước mà nhiều nước thừa nhận, như Hiệp Hội kế toán công chứng Anh (ACCA) hiện có 131.000 Hội viên, 80 văn phòng đại diện trên 64 nước trên thế giới, đã có văn phòng và 300 hội viên ở Việt Nam; Hội kế toán viên công chứng Australia (CPA A) hiện có 129.000 Hội viên, 10 văn phòng đại diện trên thế giới, có văn phòng và 180 Hội viên ở Việt Nam. Cơ quan Nhà nước nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận kết quả hoạt động của các Hội nghề nghiệp này. Tuy nhiên Nhà nước vẫn thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của các Hội nghề nghiệp.

Các Hội nghề nghiệp quốc tế thường được Nhà nước thừa nhận các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu, soạn thảo và công bố Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán;

- Tổ chức đào tạo, tổ chức thi và cấp chứng chỉ Hội viên sau 3-5 năm kinh nghiệm thực tế.

- Tổ chức cập nhật kiến thức cho Hội viên; Cung cấp thông tin nghề nghiệp và tư vấn chuyên môn cho Hội viên;

- Kiểm soát chất lượng dịch vụ của Hội viên; Quản lý đạo đức nghề nghiệp và xử lý các sai phạm của Hội viên.

Hội nghề nghiệp ở các nước đang phát triển được Nhà nước giao có sự khác nhau về: (1) Việc công bố các Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán và (2) Việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề.

Theo thông lệ chung của hầu hết các nước (Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan Macedonia, Hàn Quốc, Ba Lan, Singapore, Pháp…), người hành nghề kế toán, kiểm toán bắt buộc phải là Hội viên của Hội nghề nghiệp; người hành nghề có thể đồng thời là Hội viên của các Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán khác nhau. Hội viên của Hội nghề nghiệp có thể là cá nhân hoặc có thể là doanh nghiệp kế toán, kiểm toán. Hội viên có thể thực tế hành nghề hoặc không hành nghề kế toán, kiểm toán...

Các qui định liên quan đến mục đích, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội nghề nghiệp và tiêu chuẩn, điều kiện của Hội viên nói trên được qui định trong văn bản pháp luật hoặc các hình thức khác, có nước có Luật riêng về Hội nghề nghiệp tự quản; có nước có các chương riêng trong Luật kế toán viên công chứng...

2/ Hội nghề nghiệp về kiểm toán độc lập ở Việt Nam (VACPA)

2.1 Sự cần thiết cấp bách khách quan của việc thành lập:

Trước năm 2005, Bộ Tài chính là cơ quan quản lý nhà nước, trực tiếp thực hiện và quản lý mọi hoạt động liên quan đến nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, gồm: Trình và ban hành văn bản qui phạm pháp luật về kiểm toán; Tổ chức thi và cấp chứng chỉ KTV; Đăng ký và quản lý hành nghề; Tổ chức đào tạo, cập nhật kiến thức; Kiểm soát chất lượng hoạt động và xử lý các sai phạm của KTV hành nghề và DNKT.

Năm 2005 Việt Nam đã thành lập Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Với mục tiêu hội nhập với các tổ chức Hội nghề nghiệp trong khu vực và thế giới, Hội viên VACPA phải là người có chứng chỉ KTV, đáp ứng các yêu cầu về cập nhật kiến thức, về kiểm soát chất lượng, về năng lực hành nghề, trách nhiệm pháp lý trong các báo cáo kiểm toán và dịch vụ có bảo đảm và yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp tương đương với yêu cầu hội viên là các kế toán viên công chứng của các nước trong khu vực và thế giới.

Năm 2005, xét đến sự cần thiết của công cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế; xét điều kiện thực tế của các Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán đã có ở Việt Nam, ngày 14/07/2005 tại Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã chuyển giao một số công việc liên quan đến quản lý hành nghề kiểm toán cho VACPA theo lộ trình chuyển giao phù hợp, gồm: (1) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cho KTV hành nghề. Thực hiện cập nhật kiến thức cho KTV hành nghề; (2) Quản lý thống nhất danh sách KTV hành nghề, danh sách DNKT; (3) Xem xét điều kiện và công khai danh sách KTV hành nghề, danh sách DNKT đủ điều kiện hành nghề; (4) Thực hiện kiểm tra tuân thủ pháp luật về kiểm toán, chất lượng dịch vụ trong các DNKT. Hàng năm thực hiện tổng kết, đánh giá chất lượng dịch vụ và hoạt động nghề nghiệp của KTV hành nghề, hoạt động kiểm toán và báo cáo với Bộ Tài chính; (5) Các việc khác như: Tổ chức ôn thi và tham gia tổ chức thi KTV.

Trong năm 2008, Bộ Tài chính tiếp tục uỷ quyền cho VACPA thực hiện việc nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế (Quyết định số 1053/QĐ-BTC ngày 13/5/2008).

2.2 Kết quả thực hiện các công việc do Bộ Tài chính chuyển giao cho VACPA

(1) Việc chuyển giao công việc quản lý hành nghề kiểm toán thuộc trách nhiệm của Bộ Tài chính cho VACPA là kịp thời và phù hợp với thông lệ Quốc tế:

Hoạt động kiểm toán đòi hỏi sự độc lập, trung thực, minh bạch, chịu sự kiểm soát của cả xã hội. Do đó, cần có sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp nhằm giảm nhẹ thủ tục hành chính và sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước vào doanh nghiệp. Các công việc Bộ Tài chính đã chuyển giao cho VACPA thực hiện từ năm 2005 và thực tế qua đánh giá đã chứng minh việc chuyển giao này là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, đúng với chủ trương đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Đại hội Đảng IX nêu rõ: “cần mở rộng hơn các hình thức tập hợp nhân dân, tham gia các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp…” và “hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì nhu cầu, lợi ích của nhân dân. Những tổ chức này được Nhà nước uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ, cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng. Thông qua đó, nhà nước có thể tập trung sức lực để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng”.

Công việc quản lý, cập nhật kiến thức và kiểm soát người hành nghề kiểm toán có khối lượng ngày càng lớn, càng phức tạp, đòi hỏi cao, sát thực tế hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế… trong khi cơ quan nhà nước không thể tăng biên chế bộ máy hành chính, năng lực thực hiện cũng bị hạn chế do cán bộ nhà nước không có chứng chỉ hành nghề và thực tế không hành nghề nên không nhất thiết cứ phải làm các công việc như đã chuyển giao, nếu không sẽ làm hạn chế sự phát triển nghề nghiệp này.

(2) Công việc chuyển giao trong 5 năm qua đã đạt hiệu quả tốt:

Về cơ bản VACPA đã và đang triển khai thực hiện tốt, có hiệu quả các công việc do Bộ Tài chính chuyển giao.Trong 5 năm qua, để thực hiện được các công việc Bộ Tài chính chuyển giao, VACPA đã hình thành được tổ chức bộ máy với các qui chế hoạt động theo mô hình của tổ chức nghề nghiệp quốc tế. Bước đầu VACPA đã góp phần nâng cao chất lượng và uy tín KTV hành nghề thông qua hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức, tư vấn chuyên môn, kiểm soát chất lượng, quản lý hành nghề và quan hệ quốc tế. Xã hội đã biết đến VACPA và tổ chức quốc tế bước đầu đã quan tâm đến hoạt động của VACPA.

3/ Bài học kinh nghiệm từ hoạt động của VACPA cho việc soạn thảo dự án Luật Kiểm toán độc lập

(1). Để hội nhập với quốc tế và các nước trong khu vực, các nội dung liên quan đến Hội nghề nghiệp về kiểm toán trong hoạt động kiểm toán độc lập cần phải được luật hoá làm cơ sở pháp lý để chuyển giao dần các chức năng quản lý hành nghề kiểm toán từ cơ quan nhà nước sang cho Hội nghề nghiệp, đó cũng chính là việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Theo thông lệ quốc tế, Hội nghề nghiệp cần được quy định rõ vai trò, vị trí và được Nhà nước thừa nhận, thuận lợi cho việc hội nhập, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực kiểm toán. Sự tồn tại của Hội nghề nghiệp là cần thiết khách quan nhằm góp phần phát triển hoạt động nghề nghiệp. Hiện nay hơn 95% KTV hành nghề đã tham gia hội viên của VACPA. Đây là Tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập có đặc thù riêng (như hành nghề luật sư) vì có vai trò rõ ràng trong việc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hành nghề của các KTV hành nghề và DNKT.

Ở Việt Nam, một số nghề nghiệp khác cũng đã có Hội và được xác định là Tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được quy định một chương riêng trong Luật như Luật Luật sư, Hội hành nghề y dược tư nhân (trong Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân), giúp cho Hội định hướng phát triển rõ ràng, mạnh mẽ sau khi có Luật này.

(2). Các nội dung sau cần được nghiên cứu, xem xét để qui định trong Luật Kiểm toán độc lập:

Thứ nhất, nguyên tắc quản lý hoạt động kiểm toán độc lập: cần kết hợp giữa quản lý Nhà nước với phát huy vai trò tự quản được chịu trách nhiệm của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật, chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của KTV hành nghề và DNKT.

Những năm qua VACPA đã hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả cho cơ quan Nhà nước trong việc quản lý hành nghề kiểm toán. Tuy nhiên nguyên tắc kết hợp giữa quản lý Nhà nước với tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán chưa được quy định chính thức trong văn bản pháp luật về kiểm toán độc lập, mặt khác bản thân VACPA còn có khó khăn về nguồn nhân lực, cũng như tổ chức hoạt động, chưa thực sự chuyên nghiệp nên cơ quan nhà nước chưa thể chuyển giao nhiều hơn các phần việc liên quan đến việc quản lý hành nghề kiểm toán cho Hội như thông lệ của hầu hết các nước. Theo đó công tác quản lý hành nghề kiểm toán hiện nay vẫn còn nặng tính chất hành chính nhà nước.

Thứ hai, qui định về Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán, gồm các điểm sau:

(a). Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật về Hội để tập hợp hội viên là KTV, KTV hành nghề và DNKT trong cả nước.

(b). Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán được thực hiện các công việc sau:

- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, tư vấn và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho các hội viên;

- Kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động của hội viên; giám sát và giúp đỡ hội viên hành nghề theo đúng quy định của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên;

- Xây dựng và công bố chuẩn mực kiểm toán sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính;

- Tham gia với Bộ Tài chính tổ chức thi KTV hành nghề;

- Tham gia xây dựng văn bản pháp luật và kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước về những vấn đề có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập.

(c). Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán khi thực hiện các hoạt động của Hội có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm toán độc lập và các văn bản pháp luật có liên quan.

Thứ ba, qui định trách nhiệm của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán như sau:

- Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán thực hiện tự quản KTV hành nghề, DNKT và hoạt động hành nghề kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập và Điều lệ của mình;

- Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản lý KTV hành nghề và hoạt động hành nghề kiểm toán theo quy định của pháp luật và của Bộ Tài chính.

Thứ tư, qui định điều kiện KTV hành nghề phải là hội viên tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán.

Việc quy định KTV hành nghề phải là hội viên tổ chức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra chất lượng kiểm toán viên. Tổ chức nghề nghiệp là đơn vị kiểm tra, giám sát việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán của các KTV hành nghề. Đây là tiêu chí quan trọng để KTV hành nghề tuân thủ pháp luật, mặt khác tạo điều kiện cho tổ chức nghề nghiệp phát huy vai trò kiểm tra, giám sát. Người hành nghề kiểm toán ở hầu hết các nước cũng đều phải là hội viên của một trong các tổ chức nghề nghiệp được Nhà nước thừa nhận.

Để có thể đưa được các quy định nói trên vào Luật kiểm toán độc lập, thực tế cũng là nhờ một phần lớn vào những gì VACPA đã làm được trong 5 năm qua, giúp cho cơ quan Nhà nước, các chuyên gia pháp luật có được hình ảnh thực tiễn của Việt Nam, có sức thuyết phục về tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán.

Kiểm toán là một loại hình dịch vụ pháp lý phổ biến và quan trọng ở mọi quốc gia.Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành thị trường thống nhất về dịch vụ kiểm toán, trước hết là quốc gia, tiếp theo là khu vực, sau đó là toàn cầu. Trong bối cảnh đó, việc đẩy nhanh sự phát triển, nâng cao trình độ nghề nghiệp và đảm bảo chất lượng dịch vụ kiểm toán tiếp cận và ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với mọi quốc gia đang phát triển. Trong sự nghiệp quan trọng đó, vai trò của Hội nghề nghiệp là rất lớn và cần được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì vậy việc luật hoá các nội dung liên quan đến Hội nghề nghiệp về kiểm toán như nêu trên sẽ xác định vai trò, vị trí rõ ràng được Nhà nước thừa nhận VACPA trong việc tham gia quản lý hoạt động nghề nghiệp này phù hợp với thông lệ Quốc tế, hướng đến mục tiêu được thừa nhận về dịch vụ kiểm toán Việt Nam. Từ đó VACPA phải duy trì và phát triển mạnh mẽ hơn, phải thực sự là tổ chức độc lập và tự quản, mang tính nghề nghiệp cao, phải có uy tín và danh tiếng để thu hút Hội viên đẳng cấp nghề nghiệp cao hướng đến mục tiêu ngang tầm khu vực và quốc tế./.

(Theo VACPA)

Để VACPA trở thành hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập được khu vực và quốc tế thừa nhận

ĐỂ VACPA TRỞ THÀNH HỘI NGHỀ NGHIỆP CHUYÊN NGHIỆP, ĐỘC LẬP ĐƯỢC KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ THỪA NHẬN

Bùi Văn Mai – Phó Chủ tịch thường trực

kiêm Tổng thư ký VACPA

Ông Bùi Văn Mai

Phó Chủ tịch thường trực

kiêm Tổng thư ký VACPA

C

ùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các Hệ thống kiểm toán Việt Nam đã hình thành và phát triển khá



toàn diện và chiếm vị thế ngày càng nổi trội, đóng góp to lớn cho công cuộc đổi mới hiệu quả nền kinh tế đất nước. Đến nay, Kiểm toán Nhà nước kỷ niệm 16 năm, Kiểm toán độc lập vừa tròn 19 năm và kiểm toán nội bộ ra đời 13 năm. Ba hệ thống kiểm toán Việt Nam hoạt động với 3 vị thế khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là tạo lập ra hệ thống thông tin kinh tế, tài chính trung thực, khách quan phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức và cả xã hội.

Sau 19 năm thành lập và phát triển, Hệ thống kiểm toán độc lập đã xác định rõ mục tiêu phấn đấu trở thành nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập, được khu vực và quốc tế thừa nhận.

Mặc dù văn bản pháp luật cao chưa quy định rõ, nhưng Bộ Tài chính, với chức năng là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực kiểm toán độc lập đã nhận thức và hành động trong thực tế là năm 2005 đã chuyển giao dần, theo thông lệ quốc tế, một số công việc quản lý hành nghề kiểm toán độc lập cho một tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán mới được thành lập nhưng đã có sự chuẩn bị chu đáo, nhận thức đúng đắn, rõ ràng con đường phát triển và thực tế hành động đã khẳng định sự đúng đắn từng ngày. Đó là Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đang trên đường phấn đấu trở thành Hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập được khu vực và quốc tế thừa nhận.

Để làm được điều đó, một mặt cơ quan Nhà nước phải xác lập rõ vị thế của VACPA trong cơ chế pháp luật, có thể không giao toàn bộ quyền cho VACPA như một Hội nghề nghiệp quốc tế được thành lập như một doanh nghiệp, tham gia cạnh tranh trong sự hợp tác với cơ quan Nhà nước để nâng cao chất lượng dịch vụ. Sau những cuộc khủng hoảng tài chính hơn 10 năm trước và hiện nay, thế giới có xu hướng thu bớt một số chức năng của Hội nghề nghiệp về cơ quan Nhà nước (chủ yếu chức năng công bố chuẩn mực kế toán, kiểm toán và kiểm soát chất lượng dịch vụ...). Còn Việt Nam từ xu hướng tập trung toàn bộ quyền lực quản lý trong bộ máy hành chính Nhà nước thì tất yếu phải chuyển giao từng bước, một phần công việc hướng dẫn chuyên môn, quản lý, kiểm soát trực tiếp người hành nghề đang ngày càng đông đảo và yêu cầu chuyên môn cao mà bộ máy hành chính Nhà nước khó thỏa mãn được.

Để trở thành tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập được khu vực và quốc tế thừa nhận, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) phải xác lập được rõ ràng mục tiêu hoạt động, định hướng phát triển, cách thức tổ chức và hàng loạt biện

pháp hành động theo một lộ trình định sẵn; Phải đóng góp thực sự cho mục tiêu nâng cao chất lượng thông tin kinh tế, tài chính trung thực, công khai, minh bạch... góp phần hữu hiệu bảo vệ lợi ích cộng đồng và xã hội.

Địa vị pháp lý và năng lực hoạt động của VACPA không thể chủ quan định đoạt mà tác động qua lại. Một khi đã nhận thấy khả năng tiềm tàng, định hướng phát triển rõ ràng của Hội thì cơ quan Nhà nước mới yên tâm, tin tưởng chuyển giao nhiều chức năng hoạt động hơn; và ngược lại cơ quan Nhà nước cũng cần mạnh dạn chuyển giao bằng một lộ trình rõ ràng, điều kiện cụ thể thì VACPA mới có đích phấn đấu. Quan hệ tương tác, qua lại đó chính là chủ trương xã hội hóa, là tính chất thị trường của kinh tế thị trường mà Nhà nước ta đang hướng đến.

Để làm những điều đó, ngay từ khi thành lập, VACPA đã, đang và sẽ tiếp tục hành động như sau:

* Phương châm hoạt động:

Phương châm hoạt động là yếu tố quyết định của một tổ chức. Nó chi phối mô hình tổ chức, việc lựa chọn con người và kế hoạch hành động. Phương châm hoạt động của VACPA cô đọng trong 2 cụm từ ngắn gọn:

VACPA – GIA TĂNG GIÁ TRỊ HỘI VIÊN

VACPA – ĐỘC LẬP, TRUNG THỰC, MINH BẠCH.

VACPA xác định: VACPA là Hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập của những người có chứng chỉ KTV. Do đó việc thành lập Hội và mọi hoạt động của Hội trước hết và tất là vì lợi ích của Hội viên. Hội viên là tài sản của Hội. Uy tín, danh tiếng, địa vị của Hội viên trong xã hội khẳng định uy tín, danh tiếng và địa vị của VACPA trong xã hội. Hoạt động nghề nghiệp của Hội viên chính là hoạt động gián tiếp của Hội. Do đó mọi việc làm, chương trình hành động của Hội không có mục đích nào khác là làm gia tăng ngày càng cao, càng vững chắc chất lượng và giá trị của Hội viên. Mỗi kiểm toán viên – Hội viên VACPA đều có đều có giá trị thị trường. Bằng các hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức hàng năm ngày càng thiết thực, bổ ích về nội dung, hấp dẫn về hình thức là góp phần nâng cao nhận thức chuyên môn, kinh nghiệm suốt đời cho Hội viên. Việc cung cấp dịch vụ tư vấn, giải đáp chuyên môn kịp thời, chất lượng cũng làm gia tăng trình độ cho Hội viên. Quản lý danh sách Hội viên chặt chẽ, quản lý và xử lý các vi phạm đạo đức hành nghề, tổ chức các hoạt động ngoại khóa và đặc biệt là kiểm soát chất lượng dịch vụ hàng năm... là những việc chủ chốt của VACPA cũng chính là góp phần nâng cao uy tín, danh tiếng của Hội viên, là làm gia tăng giá trị thị trường của Hội viên. Một khi mọi Kiểm toán viên đều trở thành hội viên và tự hào về điều đó. Một khi các doanh nghiệp và xã hội coi trọng ý kiến và chữ ký của kiểm toán viên – hội viên VACPA... chính là khi VACPA đạt được phương châm hoạt động này. Tuy nhiên gia tăng giá trị hội viên chỉ là phương châm hoạt động trực tiếp của VACPA. Phương châm “VACPA Độc lập – Trung thực – Minh bạch”

mới là phương châm hoạt động chủ yếu, cốt lõi, sâu sa, bản chất, vì lợi ích quốc gia lợi ích, xã hội và quốc tế của VACPA.

Nghề nghiệp của các kiểm toán viên độc lập chủ yếu là thông qua hoạt động tư vấn và kiểm toán để đưa ra ý kiến một cách độc lập, khách quan, trung thực nhất về sự trung thực và hợp lý của các số liệu, thông tin tài chính được kiểm toán, giúp cho cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức và mọi cá nhân có cơ sở chắc chắn thực hiện đúng trách nhiệm và được hưởng đầy đủ lợi ích kinh tế của mình.

Trong nền kinh tế thị trường, các nguồn lực kinh tế, tài chính được đầu tư vào sản xuất, kinh doanh ngày càng đa dạng, đan xen lẫn nhau và biến động phong phú, phức tạp. Từng doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân rất khó khăn để kiểm soát các trách nhiệm và lợi ích của mình. Các kiểm toán viên độc lập thông qua hoạt động nghề nghiệp của họ đã thực hiện sự kiểm soát và đưa ra ý kiến xác nhận của mình giúp các tổ chức và cá nhân yên tâm, tin tưởng đưa ra các quyết định kinh tế, thực hiện trách nhiệm và bảo vệ quyền lợi của mình. Vì thế hoạt động kiểm toán độc lập phải thực sự độc lập, trung thực và minh bạch. Hoạt động của VACPA chính là hướng đến sự độc lập, trung thực và minh bạch đó.

Phương châm hoạt động của VACPA không chỉ là khẩu hiệu mà được thể hiện trong các văn bản Điều lệ, phương hướng hoạt động, kế hoạch hàng năm, mô hình tổ chức và hành động hàng ngày của từng thành viên.

* Phát triển tổ chức và hội viên

Trước hết, mô hình tổ chức của VACPA là tổ chức tập trung từ Ban chấp hành Trung ương đến từng Hội viên trong cả nước. VACPA không có hội, chi hội thành viên ở các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp... Đó là cách thức tổ chức mang tính chất hành chính, quen thuộc với các tổ chức hội xã hội, khó đem lại lợi ích trực tiếp cho Hội viên. Mọi hoạt động dịch vụ của VACPA đều cung cấp trực tiếp cho Hội viên, bảo đảm sự bình đẳng, đồng đều cho từng Hội viên. VACPA quản lý trực tiếp từng Hội viên làm cho mọi Hội viên đều cảm nhận được sự quan tâm cũng như sự giám sát của Hội. Họ luôn biết và nhớ rằng mình là Hội viên của VACPA.

Mọi hoạt động của VACPA đều tuân thủ quy định của Nhà nước và quy chế hoạt động của Hội thông qua Điều lệ và 10 quy chế hoạt động. Sức mạnh của một tổ chức là có quy chế đầy đủ, rõ ràng, đồng nhất, công khai và chuyên nghiệp.

Lựa chọn và tuyển dụng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp là điều kiện tiên quyết của một tổ chức. Ban chấp hành VACPA đều là người có chứng chỉ hành nghề và hoạt động chuyên nghiệp nên đồng nhất được hành động vì lợi ích của tổ chức cũng chính là vì lợi ích nghề nghiệp của họ.

Việc phát triển Hội viên vừa là để tăng quy mô, vừa là để tăng đối tượng phục vụ xã hội. Ngoài việc quảng bá Hội viên tiềm năng trong giới sinh viên, hướng nghiệp cho họ trở thành kiểm toán viên, hội viên VACPA. Trong những năm qua, VACPA đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA Australia, ICPAS Singapore... giúp họ phát triển ở Việt Nam, cũng chính là tạo ra nguồn hội viên cao cấp cho VACPA. Những người có chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế sẽ được

VACPA hỗ trợ học thi chuyển đổi lấy chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam. Khi đó sẽ tăng thêm hội viên VACPA có trình độ quốc tế. Người có chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam thì được VACPA hỗ trợ tham gia các kỳ thi ACCA, CPA Australia... để đạt chứng chỉ quốc tế. VACPA đã làm việc với ACCA, CPA Australia... để người có chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam được miễn thi một số môn thi khi dự thi lấy chứng chỉ ACCA, CPA Australia... Bằng cách đó, sau 4 năm hoạt động Hội viên VACPA đã tăng lên gấp 4 lần, trong đó 1/4 Hội viên đã đạt chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế.

* Phát triển các hoạt động đào tạo và tư vấn

Trong bối cảnh kiến thức và thông tin kinh tế trong nước và quốc tế thay đổi và phát triển hàng ngày, hàng giờ đòi hỏi nghề nghiệp tư vấn và kiểm toán phải học tập thường xuyên và suốt đời. Hội nghề nghiệp về kiểm toán có ưu thế tuyệt đối là giàu kinh nghiệm thực tế. Hội viên của VACPA có thể là giảng viên trong các trường đại học, cán bộ quản lý và nhiều nhất là người làm thực tế trong các công ty kế toán, kiểm toán, kể cả chuyên gia ở các nước và hội nghề nghiệp quốc tế. Do đó chương trình đào tạo đều xuất phát từ yêu cầu thực tế cần hệ thống hóa lại, phổ biến rộng rãi cho Hội viên. Đầu mỗi năm VACPA đều đưa ra khoảng 30 chuyên đề cần đào tạo, cập nhật trong năm gửi cho các công ty và hội viên. Trên cơ sở tổng hợp các yêu cầu của hội viên, VACPA lập lên chương trình đào tạo xuyên suốt cả năm cho từng cấp nhân viên lựa chọn. Bằng cách đó, mỗi hội viên đều lựa chọn được chuyên đề mình cần và sắp xếp lịch học phù hợp. Về hình thức tổ chức, có lớp ngắn ngày, lớp dài 3, 4 ngày; có lớp học, có hội thảo hoặc đối thoại, giao tiếp hội viên... Có lớp tổ chức tập trung, có lớp tổ chức cho từng công ty theo yêu cầu chuyên sâu từng loại kiến thức hoặc từng loại khách hàng...và sắp tới là đào tạo trực tuyến (E-Learning).

Bên cạnh hoạt động đào tạo theo mùa (quý II, III) thì hoạt động tư vấn được thực hành trong suốt cả năm, nhất là mùa kiểm toán (quý I, IV). Bằng cách trả lời trực tiếp qua điện thoại, qua website, gửi email, fax hoặc công văn chính thức... VACPA không chỉ cung cấp kiến thức và kinh nghiệm thực tế cho Hội viên mà nhiều khi là giúp Hội viên xử lý kịp thời khi đang thực hành kiểm toán ở xa... Hoạt động tư vấn đem lại lợi ích tức thì cho Hội viên làm cho Hội trở thành người đồng hành đáng tin cậy của Hội viên.

* Tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ của Hội viên

VACPA luôn khẳng định: Chất lượng dịch vụ quyết định sự tồn tại và uy tín của kiểm toán viên. Do đó trên cơ sở được Bộ Tài chính ủy quyền, ngay sau khi thành lập, VACPA đã thực hành công việc kiểm soát chất lượng dịch vụ. Trước hết, Hội phải hình thành được tổ chức hoạt động kiểm soát chất lượng thông qua việc thành lập Ban kiểm soát chất lượng là những người phải có chứng chỉ kiểm toán viên, phải kinh qua hoạt động thực hành kiểm toán và tư vấn ở công ty. Bước đầu còn kết hợp với Bộ Tài chính và huy động chuyên gia từ các công ty kiểm toán theo hình thức kiểm tra chéo dưới sự tổ chức, điều hành của VACPA. Việc huy động sẽ được giảm dần bằng cách tăng thêm dần cán bộ chuyên trách kiểm tra của Hội.

Mỗi năm vừa qua, VACPA đã kiểm tra được từ 25% đến 30% số lượng hội viên cũng là số lượng các công ty kiểm toán. Bình quân 3 năm 1 lần được kiểm tra. Cũng có thể được kiểm tra bất thường hoặc kiểm tra liền 2, 3 năm. Sau khi kiểm tra ở từng công ty, đoàn kiểm tra của Hội đều lập Biên bản kiểm tra, trong đó nhận xét, đánh giá điểm tốt, nhất là đánh giá các tồn tại về tổ chức và chuyên môn. Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra 1 năm được phổ biến cho tất cả các công ty và hội viên trong cả nước rút kinh nghiệm.

Khi xảy ra các vụ việc sai phạm đột xuất hoặc do phát hiện của Hội viên, VACPA cũng yêu cầu giải trình, trực tiếp kiểm tra và tham gia xử lý.

* Mở rộng quan hệ quốc tế

Kiểm toán độc lập là một nghề nghiệp mới, trong khi các nước đã phát triển hơn 100 năm, không thể tự mình mày mò tìm kiếm được, VACPA xác định ngay từ đầu là cần mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác và học tập kinh nghiệm của Hội nghề nghiệp các nước. Trong 5 năm hoạt động, VACPA đã ký Biên bản hợp tác với 3 Hội nghề nghiệp quốc tế là ACCA, CPA Australia và Hiệp hội Kế toán Singapore (ICPAS) và 2 trường Đại học. Thông qua Biên bản hợp tác VACPA đã có 3 chuyến đi học tập, khảo sát kinh nghiệm về hoạt động Hội ở Anh quốc, AustraliaSingapore...

Học tập một cách chọn lọc kinh nghiệm của tổ chức nghề nghiệp quốc tế và triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam là cách đi hữu hiệu nhất cho Hội nghề nghiệp ở Việt Nam.

Bằng cách này, VACPA cũng đang tham gia vào quá trình thảo luận và ký kết hiệp định thừa nhận lẫn nhau, trước hết là các nước Asean. Chúng ta còn phải làm thật nhiều việc, nhưng những gì VACPA đã và đang làm chính là trên con đường hướng đến mục tiêu của một tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập, tự chủ, tự quản, tự cân đối được khu vực và quốc tế thừa nhận.

Hãy tin tưởng vào con đường đã và đang đi của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)./.

˜(Theo VACPA)

Tuesday, 13 April 2010

Văn bản pháp luật mới của các cơ quan ban ngành mới ban hành năm 2010

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

- Pháp lệnh số
11/2010/UBTVQH12 ngày 16/03/2010 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Về thủ tục bắt giữ tàu bay

CHỦ TỊCH NƯỚC

- Quyết định số 283/QĐ-CTN ngày 15/03/2010 của Chủ tịch nước Về việc cho thôi quốc tịch Việt Nam
- Lệnh số 01/2010/L-CTN ngày 26/03/2010 của Chủ tịch nước Về việc công bố Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay

CHÍNH PHỦ

- Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 08/04/2010 của Chính phủ Về việc thành lập thành phố Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng
- Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/04/2010 của Chính phủ Về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6;5% trong năm 2010
- Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ Về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 03/2010
- Nghị định số 35/2010/NĐ-CP ngày 06/04/2010 của Chính phủ Về việc quy định mức trợ cấp; phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng
- Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ Về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

- Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê chuẩn kết quả bầu cử bổ sung Thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2004 - 2011
- Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2004 - 2011
- Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chủ nhiệm Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
- Quyết định số 35/2010/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc kiện toàn Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia và Ban An toàn giao thông tỉnh; thành phố trực thuộc Trung ương
- Quyết định số 34/2010/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Quy định về bồi thường; hỗ trợ và tái định cư các dự án thuỷ lợi; thuỷ điện
- Quyết định số 446/QĐ-TTg ngày 07/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc thành lập; tổ chức và hoạt động của Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia
- Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng
- Quyết định số 435/QĐ-TTg ngày 05/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc xuất thuốc bảo vệ thực vật dự trữ quốc gia hỗ trợ tỉnh Thái Bình phòng; chống dịch bệnh hại lúa
- Quyết định số 421/QĐ-TTg ngày 02/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc bổ sung thành viên và nhiệm vụ Ban chỉ đạo của Chính phủ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 và chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010
- Quyết định số 33/2010/QĐ-TTg ngày 02/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành quy chế tổ chức ngày Việt Nam ở nước ngoài
- Quyết định số 420/QĐ-TTg ngày 31/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc điều tra thống kê hiện trạng phổ cập dịch vụ điện thoại; internet và nghe - nhìn toàn quốc năm 2010
- Công văn số 528/TTg-KTN ngày 31/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc điều chỉnh nhiệm vụ phân lũ; chậm lũ hệ thống sông Hồng bảo vệ an toàn cho Thủ đô
- Công văn số 526/TTg-QHQT ngày 31/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc bổ sung vốn cho Dự án Quản lý rủi ro thiên tai do WB tài trợ
- Chỉ thị số 424/CT-TTg ngày 05/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc tăng cường các biện pháp nhằm bảo đảm cung cấp điện trong các tháng mùa khô năm 2010
- Chỉ thị số 422/CT-TTg ngày 02/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc tăng cường quản lý và phát triển bền vững cơ sở hạ tầng viễn thông

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

- Công văn số 100/TB-VPCP ngày 08/04/2010 của Văn phòng Chính phủ Về việc thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 104/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến
- Công văn số 2210/VPCP-KTN ngày 05/04/2010 của Văn phòng Chính phủ Về việc đầu tư Dự án vượt sông Nhà Bè và khu đô thị sinh thái An Sinh
- Công văn số 2187/VPCP-KTN ngày 02/04/2010 của Văn phòng Chính phủ Về việc phòng; trừ bệnh lùn sọc đen hại lúa
- Công văn số 2186/VPCP-KTN ngày 02/04/2010 của Văn phòng Chính phủ Về việc thực hiện Công điện số 133/CĐ-TTg ngày 16/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ
- Công văn số 2088/VPCP-QHQT ngày 31/03/2010 của Văn phòng Chính phủ Về việc gia hạn MOU giữa Việt Nam và Canada về dự án Xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm
- Công văn số 2044/VPCP-KTN ngày 30/03/2010 của Văn phòng Chính phủ Về phương án triển khai các dự án nhà máy điện Sông Hậu

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

- Thông tư số 11/2010/TT-NHNN ngày 05/04/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Về việc bãi bỏ Chỉ thị số 04/2003/CT-NHNN ngày 18/06/2003 về việc tăng cường công tác kiểm soát nội bộ; kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước
- Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 07/04/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn; hiệu quả năm 2010

BỘ TÀI CHÍNH

- Thông tư số 42/2010/TT-BTC ngày 25/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dự trữ nhà nước đối với thóc bảo quản thoáng
- Thông tư số 41/2010/TT-BTC ngày 25/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dự trữ nhà nước đối với máy bơm nước chữa cháy
- Quyết định số 671/QĐ-BTC ngày 30/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc công bố danh sách tổ chức tư vấn định giá bị loại khỏi Danh sách cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá
- Quyết định số 670/QĐ-BTC ngày 30/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc công bố danh sách tổ chức tư vấn định giá bị đình chỉ cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá
- Quyết định số 669/QĐ-BTC ngày 30/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc công bố danh sách các tổ chức tư vấn định giá được tiếp tục thực hiện cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp sau khi bị đình chỉ theo quy định tại Quyết định số 1007/QĐ-BTC ngày 15/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Quyết định số 668/QĐ-BTC ngày 30/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc công bố danh sách tổ chức tư vấn định giá đăng ký mới năm 2010 được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá
- Công văn số 4033/BTC-QLG ngày 01/04/2010 của Bộ Tài chính Về việc điều hành kinh doanh xăng dầu
- Công văn số 3671/BTC-TCT ngày 26/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc đính chính công văn số 3124/BTC-TCT ngày 15/3/2010
- Công văn số 3578/BTC-TCHQ ngày 24/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc gia hạn thêm thời gian sử dụng Tem miễn thuế và biên lai thu lệ phí Hải quan do Tổng cục Thuế phát hành
- Công văn số 3500/BTC-QLG ngày 22/03/2010 của Bộ Tài chính Về việc điều hành kinh doanh xăng dầu
- Công văn số 3055/BTC-TCT ngày 15/03/2010 của Bộ Tài chính Về thuế GTGT đối với vận tải quốc tế
- Công văn số 2505/BTC-TCT ngày 02/03/2010 của Bộ Tài chính Về hồ sơ kê khai lệ phí trước bạ
- Công văn số 2138/BTC-TCHQ ngày 12/02/2010 của Bộ Tài chính Về thủ tục hải quan và chính sách thuế đối với hàng hoá phục vụ sinh hoạt của DNCX
- Công văn số 1735/BTC-CĐKT ngày 05/02/2010 của Bộ Tài chính Về việc đăng ký áp dụng chế độ kế toán Việt Nam

TỔNG CỤC THUẾ

- Công văn số 994/TCT-KK ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế Về việc hướng dẫn thực hiện MLNSNN theo Thông tư số 26/2010/TT-BTC và sửa chỉ tiêu báo cáo kế toán thuế
- Công văn số 620/TCT-KK ngày 27/02/2010 của Tổng cục Thuế Về việc hướng dẫn thời gian khoá Sổ thuế; Báo cáo kế toán; thống kê thuế
- Công văn số 502/TCT-CS ngày 11/02/2010 của Tổng cục Thuế Về việc hoàn thuế GTGT
- Công văn số 433/TCT-KK ngày 05/02/2010 của Tổng cục Thuế Về việc kê khai giảm thuế TNDN quý IV/2008 theo Nghị quyết 30/NQ-CP
- Công văn số 421/TCT-TNCN ngày 05/02/2010 của Tổng cục Thuế Về việc trả lời vướng mắc về thuế TNCN

TỔNG CỤC HẢI QUAN

- Công văn số 1760/TCHQ-GSQL ngày 07/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc phân loại hàng hoá nhập khẩu
- Công văn số 1751/TCHQ-GSQL ngày 07/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc gia công chuyển tiếp
- Công văn số 1750/TCHQ-GSQL ngày 07/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc đăng kiểm xe ô tô chữa cháy
- Công văn số 1749/TCHQ-GSQL ngày 07/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc hướng dẫn thủ tục nhập khẩu xà lan biển
- Công văn số 1739/TCHQ-KTTT ngày 06/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc phúc đáp công văn 08/PM-2010
- Công văn số 1708/TCHQ-KTTT ngày 02/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc không thu thuế XK
- Công văn số 1695/TCHQ-KTTT ngày 01/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc đăng ký danh mục miễn thuế
- Công văn số 1694/TCHQ-KTTT ngày 01/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về thuế suất thuế GTGT
- Công văn số 1690/TCHQ-KTTT ngày 01/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về vướng mắc việc phạt chậm nộp thuế GTGT
- Công văn số 1676/TCHQ-GSQL ngày 01/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc phân loại mặt hàng nhông xích đề xe máy ""
- Công văn số 1675/TCHQ-GSQL ngày 01/04/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc phân loại mặt hàng máy massage
- Công văn số 1651/TCHQ-KTTT ngày 31/03/2010 của Tổng cục Hải quan Về việc đăng ký danh mục miễn thuế

BỘ CÔNG THƯƠNG

- Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29/03/2010 của Bộ Công thương Về việc ban hành Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng
- Quyết định số 1669/QĐ-BCT ngày 05/04/2010 của Bộ Công thương Về việc bổ sung Quy hoạch phân vùng thăm dò; khai thác; chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất nguyên liệu đá vôi trắng (đá hoa); felspat; cao lanh và magnezit đến năm 2015; có xét đến năm 2025
- Công văn số 3143/BCT-TC ngày 30/03/2010 của Bộ Công thương Về việc nhập khẩu vật tư; thiết bị cho dự án điện
- Chỉ thị số 12/CT-BCT ngày 07/04/2010 của Bộ Công thương Về việc thực hiện đảm bảo cung cấp điện các tháng mùa khô năm 2010

BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

- Công văn số 1078/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/04/2010 của Bộ Lao động; Thương binh và Xã hội Về việc thực hiện chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP
- Công văn số 1077/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/04/2010 của Bộ Lao động; Thương binh và Xã hội Về việc thực hiện chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP
- Công văn số 1076/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/04/2010 của Bộ Lao động; Thương binh và Xã hội Về việc thực hiện chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP
- Công văn số 1075/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/04/2010 của Bộ Lao động; Thương binh và Xã hội Về việc trợ cấp thôi việc trong doanh nghiệp được cổ phần hoá theo NĐ 187/2004/NĐ-CP
- Công văn số 1068/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/04/2010 của Bộ Lao động; Thương binh và Xã hội Về việc hướng dẫn thực hiện nâng bậc lương cho người lao động

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

- Thông tư số 12/2010/TT-BGDĐT ngày 29/03/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Về việc ban hành Quy định về quản lý đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Công văn số 1604/BGDĐT-VP ngày 30/03/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Về việc quy định tiêu chuẩn đánh giá và cho điểm về các lĩnh vực công tác đối với các cơ sở giáo dục đại học; cao đẳng

BỘ TƯ PHÁP

- Công văn số 89/BTP-KHTC ngày 25/03/2010 của Bộ Tư pháp Về việc thực hiện văn bản mới có hiệu lực thi hành trong công tác đấu thầu

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

- Quyết định số 1174/QĐ-BVHTTDL ngày 02/04/2010 của Bộ Văn hóa; Thể thao và Du lịch Về việc phê duyệt phương án chuyển đổi Công ty Xuất nhập khẩu phát hành phim Việt Nam thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xuất nhập khẩu và Phát hành phim Việt Nam

BỘ XÂY DỰNG

- Quyết định số 410/QĐ-BXD ngày 31/03/2010 của Bộ Xây dựng Về việc công bố chỉ số giá xây dựng Quí 4 và năm 2009

UỶ BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC

- Công văn số 920/UBCK-QLPH ngày 02/04/2010 của Uỷ ban Chứng khoán Về việc chào mua công khai chứng khoán

UBND TP HÀ NỘI

- Quyết định số 1569/QĐ-UBND ngày 06/04/2010 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Về việc phê duyệt đề án quản lý bảo vệ môi trường; quản lý sử dụng đất đai lưu vực sông Nhuệ
- Quyết định số 1505/QĐ-UBND ngày 02/04/2010 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Về việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu Dự án di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi GPMB dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông
- Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 02/04/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội Về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng; chống tham nhũng thành phố Hà Nội
- Quyết định số 13/2010/QĐ-UBND ngày 01/04/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội Về việc ban hành Quy định tiếp công dân và giải quyết khiếu nại; tố cáo thuộc Thành phố Hà Nội
- Công văn số 2267/UBND-LĐCSXH ngày 06/04/2010 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Về việc xây dựng đơn giá tiền lương và quỹ tiền lương năm 2010
- Công văn số 2115/UBND-VHKG ngày 31/03/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội Về việc triển khai các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội; công tác quản lý; tổ chức hoạt động quảng cáo rao vặt trên địa bàn thành phố Hà Nội

UBND TP HỒ CHÍ MINH

- Quyết định số 22/2010/QĐ-UBND ngày 29/03/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Về việc phê duyệt Chương trình giảm nghèo; tăng hộ khá của thành phố giai đoạn 2009 - 2015
- Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND ngày 29/03/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Về việc thành lập thí điểm lực lượng quản lý đê nhân dân tại các phường trọng điểm thường xuyên bị ảnh hưởng triều cường trên địa bàn quận 12 và quận Thủ Đức
- Chỉ thị số 11/2010/CT-UBND ngày 02/04/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Về việc tăng cường công tác quản lý và bình ổn giá trên địa bàn thành phố năm 2010
- Chỉ thị số 10/2010/CT-UBND ngày 02/04/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Về công tác phòng; chống lụt; bão; thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2010 trên địa bàn thành phố

CỤC THUẾ TP HÀ NỘI

- Quyết định số 5086/QĐ-CT-THNVDT ngày 01/04/2010 của Cục thuế thành phố Hà Nội Về việc ban hành Bảng giá tối thiểu tính lệ phí trước bạ một số loại tài sản như: tàu thuyền; ô tô; xe máy; súng săn; súng thể thao
- Công văn số 3378/CT-TNCN ngày 08/03/2010 của Cục thuế thành phố Hà Nội Về việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 đối với tổ chức; cá nhân uỷ nhịêm thu qua Sở Công Thương

BẢO HIỂM XÃ HỘI TP HỒ CHÍ MINH

- Công văn số 719/BHXH-PTHU ngày 29/03/2010 của Bảo hiểm Xã hội thành phố Hồ Chí Minh Về việc thực hiện quy định về mức lương tối thiểu chung

Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu

Ngày 08/04/2010 của Bộ Tài chính ban hàng Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu; khấu trừ số thuế của cá nhân nộp thiếu; hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa theo quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu

Tổ chức trả thu nhập tiền lương, tiền công được cá nhân nhận thu nhập uỷ quyền quyết toán thuế có trách nhiệm lập tờ khai quyết toán thuế TNCN theo hướng dẫn tại Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02/2010; Công văn số 450/BTC-TCT ngày 08/02/2010 của Bộ Tài chính và nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định. Theo quyết toán thuế chỉ có cá nhân nộp thừa thì tổ chức trả thu nhập hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của các cá nhân nộp thừa lớn hơn tổng số thuế của các cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế của cá nhân nộp thiếu cộng với số tiền phải hoàn thuế từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của cá nhân nộp thừa bằng với tổng số thuế của cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ số thuế của các cá nhân nộp thiếu để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa.

Tập tin đính kèm:
CV4283_Huong dan bu tru PIT.doc [39 KiB]

Lấy lại tiền thuế, cần 18 chữ ký

Một bạn đọc trong ngành tài chính đã phát hiện để hoàn thuế thu nhập cá nhân cho những người có nhiều nguồn thu nhập khác nhau phải cần đến 18 chữ ký.

Trường hợp này rơi vào những cá nhân có thu nhập thấp, có nguồn thu nhập khác nhau, làm việc không có hợp đồng lao động, như sinh viên, công nhân xây dựng, cộng tác viết báo...

Khổ cho người thu nhập thấp

Hiện nay, cách quản lý thuế đối với những người có hợp đồng lao động, làm việc tại một nơi là tương đối hợp lý. Thế nhưng, với người làm việc ở nhiều nơi, không có chỗ làm việc nhất định thì khá phức tạp. Do chưa rõ họ có thu nhập đến mức chịu thuế hay không, nhưng để tránh thất thu thuế, Bộ Tài chính quy định cứ mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng những người này đều bị tạm khấu trừ 10%. Cuối năm, nếu người đó chưa đến ngưỡng phải nộp thuế (4 triệu đồng/tháng, 48 triệu đồng/năm), lúc này họ phải đến cơ quan thuế để lấy lại tiền.

Cách tạm khấu trừ này không có lợi cho những người phải nuôi người thân (con, bố mẹ, vợ/chồng mất sức lao động). Theo Luật thuế thu nhập cá nhân, khi phải nuôi người thân, người nộp thuế được giảm trừ một khoản tương ứng với 1,6 triệu đồng/người/tháng. Thế nhưng, họ cũng không được tính phần này vào mà cứ trừ đủ 10% trong mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng.

Cơ quan thuế giải thích rằng chỉ là tạm thu, cuối năm khi quyết toán sẽ được hoàn lại. Như vậy, một khoản thu nhập lẽ ra dùng để nuôi dưỡng người thân lại bị “chiếm dụng”, cuối năm mới được lấy lại với quy trình hoàn thuế 18 chữ ký. Khá nhiều hồ sơ đề nghị hoàn thuế tại Cục Thuế TP.HCM chỉ có thu nhập ở mức 2,5-4 triệu đồng/tháng, tức 30-50 triệu đồng/năm nhưng vẫn bị khấu trừ thuế.

Với quy trình hoàn thuế khá chặt chẽ như hiện nay, 300 hồ sơ hoàn thuế mà Cục Thuế TP.HCM đã giải quyết trong thời gian qua phải cần đến 5.400 chữ ký, trong đó lãnh đạo Cục Thuế TP.HCM phải ký 1.800 lần, lãnh đạo phòng thuế thu nhập cá nhân khoảng 3.000 chữ ký. Hiện có hơn 1.000 hồ sơ đề nghị hoàn thuế và để giải quyết cần đến 18.000 chữ ký. Trong đó, lãnh đạo cục phải ký tối thiểu 6.000 lần.

Theo quy định, khi tiếp nhận hồ sơ cơ quan thuế phải giải quyết hoàn thuế sau 15 ngày làm việc. Tuy nhiên với số lượng hồ sơ xin hoàn thuế lớn như trên và có khả năng tăng thêm trong thời gian tới, cơ quan thuế cho biết khó bảo đảm giải quyết cho người dân đúng hạn.

Hồ sơ hoàn thuế phải qua 18 chữ ký

Phòng thuế thu nhập cá nhân

Pháp chế

Lãnh đạo Cục Thuế

Cán bộ
trực tiếp giải quyết

Phó phòng

Trưởng phòng

Cán bộ thẩm định

Trưởng phòng

2

7

1

1

1

6

Quy định về khấu trừ thuế của cá nhân

Ðiều kiện

Quy định khai và tính thuế

Cá nhân có hợp đồng lao động

Hằng tháng giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc, tạm nộp thuế, cuối năm quyết toán.

Cá nhân có hợp đồng lao động và có làm thêm ở nơi khác

Tương tự như trên, nhưng phần thu nhập ở nơi làm thêm phải tạm nộp 10% mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng, cuối năm quyết toán.

Cá nhân không có hợp đồng lao động (sinh viên, công nhân xây dựng...)

Tạm nộp 10% trên mỗi lần nhận thu nhập trên
500.000 đồng, cuối năm quyết toán mới được giảm trừ gia cảnh.

Hoàn thuế bớt phải đi lại

Trong khi đó, ngày 8-4, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã có văn bản để giải quyết tình trạng người được hoàn thuế thu nhập cá nhân phải đi lại nhiều lần. Quy định này áp dụng cho những người làm công ăn lương ở một nơi duy nhất. Theo đó, đơn vị trả thu nhập sau khi quyết toán thuế thu nhập, được bù trừ số thuế của cá nhân nộp thừa với số thuế của cá nhân nộp thiếu. Như vậy, việc hoàn thuế sẽ được chuyển về cho cơ quan chi trả chứ không như trước là sau khi quyết toán thuế, người được hoàn thuế phải tự mang hồ sơ đến cơ quan thuế để lấy lại tiền thuế.

Nên nâng mức khởi điểm khấu trừ

Theo các chuyên gia tài chính, để giảm bớt rắc rối cho người lao động có thu nhập ở nhiều nơi, nên nâng mức khởi điểm khấu trừ 10% khi nhận thu nhập lên 1 triệu đồng, thay vì 500.000 đồng/lần như hiện nay. Mức khấu trừ cao hơn sẽ hạn chế tối đa tình trạng khấu trừ thuế của cả người có thu nhập thấp.

Với trường hợp ở đơn vị chỉ có người nộp thừa thì đơn vị chi trả ứng trước tiền để hoàn thuế cho người lao động và quyết toán sau với cơ quan thuế. Ngược lại chỉ có người nộp thiếu thì khấu trừ số thuế thiếu và nộp vào ngân sách.

Nếu số thuế của người nộp thừa lớn hơn thuế của người nộp thiếu thì đơn vị chi trả thu nhập khấu trừ thuế của người nộp thiếu, đồng thời ứng trước số tiền phải hoàn thuế từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho người nộp thừa. Ngược lại thì khấu trừ số thuế nộp thiếu để trả cho người nộp thừa, số thuế còn lại nộp vào ngân sách.

Trường hợp số thuế của người lao động nộp thừa bằng với tổng số thuế của người nộp thiếu thì tổ chức chi trả thu nhập khấu trừ số thuế của người nộp thiếu để trả cho người nộp thừa.

Thời hạn hoàn thuế là năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ quyết toán thuế của cơ quan chi trả thu nhập.

Thời gian qua do chưa được phép bù trừ nên trường hợp người lao động đã tạm nộp dư cơ quan chi trả chỉ cấp chứng từ khấu trừ và người lao động phải tự liên hệ với cơ quan thuế để làm thủ tục hoàn thuế.

Theo A.Hồng/TT

Nghị định 28/2010/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung

Ngày 25/3/2010, Thủ tướng chính phủ đã ký Nghị định 28/2010/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu chung. Theo đó, từ ngày 1/5/2010, mức lương tối thiểu chung sẽ là 730.000 đồng/tháng, tăng thêm 80.000 so với mức hiện nay; đồng thời lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng cũng sẽ tăng thêm 12,3%


Mức lương này được áp dụng đối với Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Căn cứ theo Nghị định, kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu mới sẽ được đảm bảo từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vào tính chất của cơ quan đơn vị. Cụ thể đối với cơ quan hành chính sẽ từ 10% tiết kiệm chi thường xuyên; đối với các đơn vị sự nghiệp và cơ quan hành chính có thu sẽ từ 40% số thu được để lại. Ngoài ra, Ngân sách trung ương cũng hỗ trợ những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn với mức bình quân 2/3 so với mức lương tối thiểu chung đối với người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ở thôn và tổ dân phố.


Nghị định 28/2010/NĐ-CP là một sự điều chỉnh cần thiết và kịp thời để đảm bảo thu nhập cho công chức, viên chức trong điều kiện giá các mặt hàng tiêu dùng đang có sự biến động như hiện nay./.

Nội dung Nghị định:

CHÍNH PHỦ
Số: 28/2010/NĐ-CP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2010

NGHỊ ĐỊNH
Quy định mức lương tối thiểu chung
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2006 - 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 là 730.000 đồng/tháng.
Điều 2. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với:
1. Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
2. Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;
3. Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;
4. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
Điều 3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở:
1. Tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điều 2 Nghị định này.
2. Tính trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 trở đi đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.
3. Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng tính theo lương tối thiểu chung.
Điều 4. Kinh phí thực hiện mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này đối với các đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm từ các nguồn:
1. Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) đối với từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ. Riêng các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu để lại theo chế độ (sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế).
3. Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính có thu.
4. Sử dụng 50% số tăng thu ngân sách địa phương.
5. Ngân sách trung ương bảo đảm:
a) Bổ sung nguồn kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu chung trong trường hợp các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện đúng các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này nhưng vẫn còn thiếu;
b) Hỗ trợ những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn với mức bình quân 2/3 so với mức lương tối thiểu chung đối với người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ở thôn và tổ dân phố được xác định theo đúng quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ.
Điều 5. Kinh phí khi thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với người lao động làm việc trong các công ty quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2 do công ty bảo đảm và được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí sản xuất kinh doanh.
Điều 6. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động và Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung cho từng thời kỳ; hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với các công ty quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2 Nghị định này; hướng dẫn tính trợ cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này đối với người lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007.
2. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định này.
3. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm:
a) Hướng dẫn việc tính toán, cân đối nguồn kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu chung theo quy định tại Điều 4 Nghị định này;
b) Thẩm định và bổ sung kinh phí thực hiện mức lương tối thiểu chung cho các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định này và bảo đảm nguồn bổ sung có mục tiêu đối với những địa phương khó khăn theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 4 Nghị định này và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
Điều 7. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2010.
Các quy định nêu tại Nghị định này được tính hưởng từ ngày 01 tháng 5 năm 2010.
2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung.
3. Thay thế khoản 1 Điều 3 Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động như sau:
“1. Doanh nghiệp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Nghị định này áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính đơn giá tiền lương.
Đối với doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 206/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương, thu nhập trong các công ty nhà nước thì được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá 1,1 lần so với mức lương tối thiểu chung; trường hợp bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 206/2004/NĐ-CP và có lợi nhuận kế hoạch cao hơn từ 5% trở lên so với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề thì áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa không quá 1,7 lần so với mức lương tối thiểu chung để tính đơn giá tiền lương”.
Điều 8. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

Ngân hàng đầu tiên vượt rào lãi suất huy động

Với biểu lãi suất Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) công bố hôm qua, lần đầu tiên sau hơn một năm, thị trường ngân hàng có mức lãi suất huy động chính thức trên 10,5%.

Kể từ 13/4, lãi suất huy động cao nhất tại ACB lên tới 11,6% một năm, áp dụng cho khách gửi từ 10 tỷ đồng trở lên, với kỳ hạn 36 tháng và lãi suất thả nổi 12 tháng (12 tháng điều chỉnh lãi suất một lần phù hợp với diễn biến thị trường). Với loại hình tiết kiệm này, khách gửi tiền sẽ được lợi nếu lãi suất có xu hướng tăng trong tương lai và ngược lại.

Mức đỉnh 11,6% cũng áp dụng cho loại hình tiết kiệm thông thường, khi khách gửi trên 10 tỷ đồng, kỳ hạn 13 tháng và lĩnh lãi cuối kỳ.

Đáng chú ý, với loại hình tiết kiệm thông thường, lãi suất kỳ hạn một tháng trở lên đều dâng trên mốc 10,5% một năm. Với kỳ hạn trên 3 tháng đến 13 tháng, nếu khách lĩnh lãi cuối kỳ sẽ hưởng lãi suất trên 11%. Hai kỳ hạn còn lại (24 và 36 tháng), lãi suất gần bằng nhau và thấp hơn kỳ hạn 13 tháng.

Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời  gian tới. Ảnh: Hoàng Hà
Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời gian tới. Ảnh: Hoàng Hà

Đây là lần đầu tiên sau hơn một năm, lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng chính thức lên trên 10,5%. Tháng 2/2009, lãi suất cơ bản giảm từ mức 8,5% xuống còn 7% một năm. Theo quy định lãi suất kinh doanh của các ngân hàng không vượt 150% lãi suất cơ bản, nên lúc đó lãi suất huy động bị khống chế dưới 10,5%.

Đến tháng 12/2009, lãi suất cơ bản tăng trở lại, lên mức 8% một năm, song để đảm bảo ổn định lãi suất cho vay, các ngân hàng được khuyến cáo tiếp tục huy động dưới 10,5%. Tuy nhiên, do áp lực cạnh tranh hút vốn, ngoài lãi suất niêm yết công khai dưới 10,5%, phần lớn các ngân hàng đều khuyến mãi, thưởng thêm và đẩy lãi suất thực trả cho khách lên cao hơn quy định.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước chủ trương tự do hóa lãi suất, cho phép các ngân hàng tự thỏa thuận lãi suất cho vay với khách hàng, thay vì bị khống chế bởi quy định không vượt 150% lãi suất cơ bản. Các ngân hàng cũng đề nghị dỡ trần lãi suất huy động 10,5%, thay vào đó sẽ xóa bỏ khuyến mãi và dần hình thành mặt bằng lãi suất theo cung cầu thị trường.

Một ngày sau quyết định gây sốc của ACB, chưa ngân hàng nào tuyên bố thay biểu lãi suất huy động. Bà Cao Thúy Nga, Phó tổng giám đốc Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB) cho biết sẽ cân nhắc điều chỉnh nếu trần lãi suất huy động trên thị trường được dỡ bỏ. Tuy nhiên theo bà Nga, mức tăng sẽ không lớn và cũng chưa tiến hành ngay bởi thanh khoản của ngân hàng hiện ổn định, nguồn vốn huy động đang tăng khá, đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng.

Tại cuộc gặp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gần đây, các ngân hàng lớn cho biết sẽ ngừng khuyến mãi và ổn định lãi suất huy động ở mức 11-12%, sau đó giảm dần để bớt sức ép với lãi suất cho vay.


(Theo Vnexpress)