Showing posts with label Tài chính. Show all posts
Showing posts with label Tài chính. Show all posts

Friday, 14 January 2011

Khó đẩy mạnh cho vay trong nửa đầu năm 2011


Nửa đầu năm 2011, các ngân hàng sẽ khó kích thích được dư nợ do mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay thấp hơn so với năm trước 2% - Ảnh: Đức Thanh
(BantinForex) Nửa đầu năm 2011, các ngân hàng sẽ khó kích thích được dư nợ do mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay thấp hơn so với năm trước 2% (ở mức 23%), đồng thời, theo dự báo của các chuyên gia, phải đến gần cuối quý II/2011, khả năng lãi suất mới giảm xuống.
Kết thúc năm 2010, không phải ngân hàng nào cũng hoàn tất mục tiêu tăng trưởng tín dụng như kỳ vọng, do đó đầu năm nay, hầu hết nhà băng đều muốn đẩy mạnh hoạt động cho vay. Đặc biệt là khi vụ mùa kinh doanh cao điểm của DN đang diễn ra, nhu cầu vốn kinh doanh, tiêu dùng cao hơn trước. Tuy nhiên, theo các ngân hàng, khó có thể đẩy mạnh được tăng trưởng dư nợ tín dụng trước áp lực lãi suất thỏa thuận còn ở mức cao như hiện nay, bình quân 18 - 20%/năm.
Vì thế, dư nợ của các ngân hàng hiện tăng trưởng khá chậm. Ông Trịnh Văn Tuấn, Tổng giám đốc OCB cho biết, trước áp lực lãi suất hiện nay, không phải khách hàng nào cũng mạnh dạn sử dụng vốn vay, nếu dự án kinh doanh không mấy khả thi. Mặt khác, phía ngân hàng cũng thận trọng hơn trong việc lựa chọn khách hàng để trao vốn, đồng thời phải cân đối cung - cầu, nhằm đáp ứng các quy định mới về tỷ lệ an toàn cũng như đảm bảo tỷ lệ vốn huy động được cấp tín dụng.
Với áp lực lãi suất hiện nay, không ít khách hàng, kể các các DN đều kỳ vọng, sau Tết Nguyên đán, lãi suất cho vay thỏa thuận giảm mới nghĩ đến việc tiếp cận vốn vay mở rộng sản xuất - kinh doanh. Thế nhưng, qua trao đổi với tổng giám đốc một NHTM, chưa hẳn dư nợ tín dụng sẽ tăng đột biến khi lãi suất thỏa thuận giảm. Một phần, do diễn biến thị trường năm 2011 được đánh giá còn nhiều thách thức, đồng thời nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất của các DN thời điểm sau Tết thường chậm lại.
Tổng giám đốc OCB nhận định, có thể hết quý I/2011 khả năng lãi suất huy động sẽ giảm, nhưng dư nợ tín dụng sau Tết Nguyên đán sẽ chỉ cân bằng lại, mà khó có thể tăng trưởng đột biến so với trước đó.
Trên thực tế, trong những tháng cuối năm 2010, do áp lực lãi suất cho vay thỏa thuận tăng nhanh, nên nhiều DN có nhu cầu thanh toán tiền hàng nhập khẩu đã chuyển hướng sang vay ngoại tệ, thay vì sử dụng vốn vay bằng tiền đồng. Điều này dẫn đến dư nợ ngoại tệ của các ngân hàng tăng mạnh trong những tháng cuối năm.
Phó tổng giám đốc CTCP Chế biến thủy sản Út Xi, ông Nguyễn Tuấn Anh cho biết, Công ty chủ yếu sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ từ Agribank. Một phần, do Út Xi là DN xuất khẩu nên có nguồn thu bằng ngoại tệ. Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay, sử dụng vốn vay ngoại tệ sẽ giảm được áp lực về lãi suất.
Hiện lãi suất cho vay USD chỉ bằng 1/3 so với lãi vay tiền đồng, với mức dao động 6 - 8%/năm. Vì thế, theo các DN, nếu cộng cả biến động tỷ giá, vay vốn ngoại tệ áp lực về lãi suất vẫn thấp hơn so với tiền đồng. Chính vì nhu cầu vay ngoại tệ lớn của các DN, trong những ngày gần đây, các NHTM tiếp tục tăng lãi suất huy động USD. Đơn cử như WesternBank tăng lãi suất tiết kiệm ngoại tệ lên 5,3%/năm và VietBank tăng lên mức cao nhất là 6%/năm - mức huy động ngoại tệ cao nhất hiện nay.
Trong khi đó, TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, Trường đại học Ngân hàng TP. HCM cho rằng, để giảm được lãi suất tiền đồng thì việc xem xét điều chỉnh giảm lãi suất tiết kiệm ngoại tệ là cần thiết, nhằm hạn chế việc tích trữ ngoại tệ.
Hiện nay, lãi suất huy động cao dẫn đến lãi suất cho vay cao, làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế và hoạt động của hệ thống ngân hàng, nợ xấu có khả năng tăng lên.
Để gỡ khó cho thị trường, một cán bộ ngành ngân hàng cho rằng: "Khi thị trường có biến động, có thể chỉ đạo của NHNN là phải áp dụng mức trần lãi suất huy động như nhau, nhưng khi mặt bằng lãi suất đã đi vào ổn định thì cần trả lại cho thị trường, chứ không thể áp dụng đồng đều. Bởi thực tế hiện nay, mức trần lãi suất huy động 14%/năm được cào bằng giữa các ngân hàng lớn và nhỏ sẽ gây khó khăn cho những nhà băng chưa có uy tín cao trên thị trường. Trong đó, rủi ro của các ngân hàng là hoàn toàn khác nhau".

Thursday, 13 January 2011

Lãi suất huy động USD đã vượt 6%/năm

Từ từ leo lên gần hai tuần nay, lãi suất tiết kiệm USD cao nhất trên thị trường đã lên đến 6,1%/năm ở NH Việt Nam Tín Nghĩa, một số NH khác cũng ở quanh mức 5,8 – 6%/năm.

Lãi suất huy động USD đã vượt 6%/năm
Đây là mức lãi suất huy động USD ở một số ngân hàng quy mô nhỏ và vừa, còn những ngân hàng thương mại lớn thì mới có ngân hàng ACB cuối tuần qua điều chỉnh lên mức cao nhất là 5% kể cả lãi thưởng. Nhưng để hưởng được mức lãi suất 4,2% ở Techcombank, hay 4,9%/năm ở ACB không dễ, người gửi phải gửi ít nhất 300.000 USD, tương đương gần 6 tỉ đồng (tỷ giá 19.500 đồng/USD) với kỳ hạn 3 tháng.
Theo các ngân hàng, bởi lượng kiều hối cuối năm đổ về nhiều nên ngân hàng tăng lãi suất để hút luồng ngoại tệ này vào, đồng thời đáp ứng nhu cầu vay cuối năm lên cao của doanh nghiệp.

Tăng huy động tiền đô
Nhu cầu mua USD đã bớt áp lực khi ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong báo cáo hoạt động ngân hàng gần nhất, cho biết trong tháng 12, cơ quan này “can thiệp bán ngoại tệ ở mức độ thích hợp cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu và thực hiện các biện pháp khác để ổn định thị trường ngoại hối”.
Ngoài ra, nguồn cung USD cũng được bổ sung từ lượng kiều hối cuối năm. Cộng thêm, nguồn cung USD từ lượng kiều hối cuối năm, như vậy, ngoài sự điều hoà tiếp tế từ NHNN, có thể thấy các ngân hàng bằng lãi suất đang tranh thủ hút lượng kiều hối cuối năm.
Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do đã giảm khá nhiều so với mức tăng mạnh hồi tháng 11, hiện xuống dưới 21.150 đồng đổi một USD. Trong khi đó, giá mỗi đồng USD bán ra cho doanh nghiệp ở các ngân hàng thương mại đang thấp hơn giá thị trường tự do khoảng 300 đồng.
Theo giám đốc khối ngoại hối một ngân hàng, lý do chính để lãi suất USD tăng là do thanh khoản tiền đồng. Kể từ khi có hiệu lực vào tháng 10, một trong những quy định khắt khe nhất trong thông tư 13 là các ngân hàng chỉ được sử dụng tối đa 80% vốn huy động để cho vay khiến các ngân hàng, nhất là ngân hàng nhỏ, gặp trở ngại về thanh khoản ngắn hạn.
Trong khi đó, ngoài thị trường dân cư, lãi suất huy động tiền đồng đã được đẩy lên đến 16%/năm, ở tầm khá cao so với lãi suất huy động USD là 6%. Thay vì tập trung vào tiền đồng với mức lãi suất quá cạnh tranh, một số ngân hàng bắt đầu xoay sang USD để tìm lối ra. Bởi theo thông tư 13, dư nợ tính trên số dư huy động USD hay VND cũng được xem như nhau.

Tránh rủi ro tỷ giá?
Việc tăng huy động tiền gửi bằng USD một phần giải bài toán chi phí vốn cho ngân hàng không quá cao, khiến cho đầu ra thuận lợi hơn. Hiện nay, lãi suất vay USD đang thấp hơn 10 – 12% so với lãi suất vay tiền đồng. Đến cuối năm 2010, tín dụng bằng USD tăng gần gấp đôi so với bằng tiền đồng. Song, đó là mức tăng trưởng, còn nếu tính về số tuyệt đối thì dư nợ bằng tiền đồng vẫn lớn hơn nhiều so với dư nợ USD. Và theo quy định, không phải ai cũng vay được USD.
Người vay USD chủ yếu là doanh nghiệp xuất nhập khẩu, và không phải ngân hàng nào cũng cho vay USD được (ngoài tìm khách, còn phải tính đến khả năng trả nợ bằng ngoại tệ đối với khách vay nhập khẩu). Vì vậy, theo giám đốc ngoại hối trên, một số ngân hàng đã hoán đổi một phần lượng USD huy động sang tiền đồng để có thanh khoản tiền đồng cho vay. Tuy nhiên, khi làm vậy, họ phải chấp nhận rủi ro tỷ giá thời điểm chuyển hoá lại sang vốn USD.
Với kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ có thay đổi trong quý 1 tương tự như năm 2010, giám đốc ngoại hối một ngân hàng nước ngoài cho biết, gần đây không ít doanh nghiệp nhập khẩu vay USD cũng chuyển sang vay tiền đồng nhằm tránh rủi ro tỷ giá. Giả sử, vay USD hôm nay giá 21.000 đồng/USD, tháng sau họ trả nợ giá USD lên 22.000 đồng/USD, mức tăng có thể lớn hơn chênh lệch lãi suất USD/VND, vì vậy, họ vay tiền đồng mua USD giá hiện tại để nhập và trả nợ.

Wednesday, 12 January 2011

Lãi suất huy động USD bắt đầu “nóng”

Lãi suất huy động USD bắt đầu “nóng” khi một số ngân hàng lớn nhỏ điều chỉnh tăng từ đầu năm 2011.
Ngày 12/1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thương Tín (VietBank) quyết định tăng lãi suất huy động USD cho tất cả các kỳ hạn gửi từ 1 đến 36 tháng. Các mức tăng là khá mạnh, có từ 0,9% - 1,3 %/năm  tùy từng kỳ hạn gửi.
Với điều chỉnh trên, lãi suất tiền gửi sản phẩm tiết kiệm lãi suất cộng, kỳ hạn 6  tháng của VietBank đã lên tới 5,9%/năm; lãi suất tiền gửi cao nhất là 6%/năm dành cho sản phẩm lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán  lãnh lãi cuối kỳ, kỳ hạn 12 tháng.
Mốc 6%/năm của ngân hàng trên cũng là điểm cao nhất trên biểu niêm yết của các ngân hàng lúc này.
Trước VietBank, một số ngân hàng thương mại khác cũng đã có quyết định tăng lãi suất huy động USD. Trong đó, ngày 31/12/2010, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á châu (ACB) có biểu áp dụng mới với lãi suất USD cao nhất lên gần 5%/năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) tăng từ ngày 7/1/2011 và các mức cao cũng đã gần 5%/năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank) ngày 8/1 cũng đã tăng lên mức cao nhất 5,3%/năm…
Qua đợt điều chỉnh này, lãi suất huy động USD phổ biến có từ 4,9% - 5,3%/năm, cá biệt một số trường hợp có từ 5,6% - 6%/năm. “Mặt bằng” chung hiện vẫn chưa có thay đổi lớn so với cuối năm 2010, nhưng việc điều chỉnh đang có hướng mở rộng.
Tìm hiểu tại một số ngân hàng thương mại, việc tăng lãi suất trước hết xuất phát từ nhu cầu vay vốn bằng USD vẫn ở mức cao. Chênh lệch lãi suất giữa vay bằng VND so với USD cộng với kỳ vọng phá giá trong ngắn hạn vẫn khá lớn là một nguyên nhân chính.
Tuy nhiên, cũng có thể tính đến một giả thiết khác, khi cửa tăng lãi suất huy động bằng VND bị chốt ở “trần” 14%/năm, huy động vàng gặp trở ngại ở quy định hạn chế quy đổi và cho vay ra áp dụng mới đây, yêu cầu cải thiện tốc độ huy động được tập trung ở nguồn vốn bằng USD, nhất là với những trường hợp cần đảm bảo các cân đối trong hoạt động.

Lợi nhuận ngân hàng sẽ tiếp tục tăng

Cổ phiếu ngân hàng nhìn chung luôn đi sau VN-Index trong 11 tháng đầu năm 2010. Chính điều này đã tạo bàn đạp tốt để cổ phiếu ngân hàng tăng mạnh trong đợt hồi phục của thị trường vào đầu tháng 12.

Ngoài nguyên nhân là giá đã xuống vùng thấp, đợt hồi phục này của cổ phiếu ngân hàng còn có sự đóng góp lớn của NĐT nước ngoài, đặc biệt ở cổ phiếu CTG và VCB, 2 cổ phiếu còn room cho NĐT nước ngoài và cũng là 2 ngân hàng quy mô lớn, có lợi thế cạnh tranh cao.

Mặc dù cổ phiếu ngành ngân hàng trong thời gian qua đã lấy lại được sự chú ý của giới đầu tư, ngành ngân hàng trong năm 2011 sẽ vẫn gặp nhiều thách thức, như:

* Các rủi ro về chuyển động vĩ mô chưa được loại trừ, trong đó, quan trọng nhất là lạm phát vẫn có khả năng tạo ra những thay đổi trong chính sách tiền tệ. Lạm phát năm 2011 dự kiến sẽ tiếp tục ở mức cao do áp lực lạm phát của thị trường thế giới và đồng VND có thể sẽ tiếp tục bị mất giá.

* Thông điệp trong điều hành chính sách năm 2011 đã đưa mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu và mục tiêu tăng trưởng tín dụng 23% trong năm 2011 so với con số thực tế năm 2010 là 27,65% cho thấy chính sách tiền tệ sẽ được quản lý chặt chẽ.

* Chất lượng tín dụng cũng là một vấn đề đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam khi khoản nợ xấu của Tập đoàn Vinashin theo ước tính chiếm tới 0,7% tổng dư nợ tín dụng cuối năm 2010.

* Sự cạnh tranh khốc liệt hơn giữa các ngân hàng sẽ vẫn tiếp tục và luôn tiềm ẩn những cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng nhỏ và ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, cạnh tranh từ phía ngân hàng nước ngoài sẽ tăng lên sau khi các ngân hàng này được phép huy động VND kể từ năm 2011. Điều này dự kiến sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng trong nước.

* Nguồn cung cổ phiếu ngân hàng năm 2011 cũng sẽ khá lớn bởi các ngân hàng đều có kế hoạch tăng vốn nhằm tăng quy mô hoạt động và đảm bảo các hệ số an toàn. Do việc gia hạn thời gian tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng đến 31/12/2011 nên một số ngân hàng sẽ lùi việc tăng vốn sang năm sau. Trước áp lực tăng vốn và nguồn cung cổ phiếu tăng, các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thu hút sức mua của NĐT, đặc biệt là các NĐT cá nhân.


Dẫu vậy, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục có tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2011. Dự kiến, hoạt động kinh doanh ngân hàng năm 2011 sẽ sáng sủa hơn năm 2010 khi các nguồn thu dự kiến không có sự đột ngột giảm sút như trong năm 2010. Các nguồn thu chính từ lãi và phí dịch vụ sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính nhờ sự hồi phục của nền kinh tế.

Cân nhắc giữa những thách thức và tiềm năng của ngành ngân hàng trong năm 2011, đồng thời, tại mặt bằng mức giá hiện tại của cổ phiếu ngân hàng khi bất lợi trong hoạt động kinh doanh 2010 đã được phản ánh vào giá, chúng tôi giữ quan điểm Trung lập (Neutral) với ngành ngân hàng.

Tuesday, 11 January 2011

Nắn dòng tín dụng

(BantinForex)-Chỉ ít ngày sau khi thực hiện biểu lãi suất mới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đầu tuần qua lại tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 7 ngày trên thị trường mở (OMO) thêm 0,5%/năm.

Động thái này, theo nhiều đánh giá, nhằm hạn chế bớt hoạt động đầu cơ lãi suất và buộc các ngân hàng phải tập trung dòng vốn tín dụng vào đúng đối tượng.

Bơm mạnh và tăng lãi

Giao dịch vốn sôi động trên thị trường liên ngân hàng khiến lãi suất các dòng vốn trên thị trường này liên tục chứng kiến các biến động mạnh, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn. Đến cuối tuần qua theo số liệu của NHNN, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 128.880 tỉ VND với các giao dịch chủ yếu phát sinh ở các kỳ hạn qua đêm và một tuần. Ở dòng vốn USD, giao dịch ở kỳ hạn qua đêm đạt doanh số tới 1.423 triệu USD, tương đương 46% doanh số giao dịch cả tuần. Thường chiếm doanh số giao dịch lớn, lãi suất các kỳ hạn qua đêm và một tuần trên thị trường liên ngân hàng cũng liên tục biến động, phản ảnh cung cầu vốn thực tế giữa các ngân hàng. Riêng ở kỳ hạn qua đêm, sau thời điểm giảm xuống dưới 10% trong những ngày cuối năm 2010, lãi suất ở kỳ hạn này trong tuần đầu tiên của năm 2011 (3-7.1.2011) tăng vọt lên mức 11,4%.

Trong khi đó trên thị trường mở, nối tiếp tuần cuối của năm 2010, NHNN trong tuần qua tiếp tục bơm ròng tuần thứ hai liên tiếp với giá trị trên 2.400 tỉ đồng nhằm hỗ trợ duy trì thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM). Cùng với mức bơm ròng không lớn, NHNN ngày 10.1 cũng quyết định nâng mức lãi suất cho vay qua OMO ở kỳ hạn 7 ngày từ 10,5%/năm lên 11%/năm. Đây là lần nâng lãi suất cho vay thứ năm ở kỳ hạn này trong vòng hơn 3 tháng. Trước đó vào ngày 5.11.2010, lãi suất kỳ hạn 7 ngày chỉ mới được nâng lên mức 8,75%/năm.

Các điều chỉnh mới này của NHNN, theo đánh giá của CTCK Bảo Việt (BVSC), sẽ nhằm hạn chế bớt hoạt động đầu cơ lãi suất của một số ngân hàng. Cụ thể sẽ hạn chế hiện tượng một số ngân hàng có tiềm lực vốn lớn đi vay trên thị trường OMO và cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng hưởng chênh lệch lãi suất. Qua đó buộc các ngân hàng này phải tập trung vốn để phát triển tín dụng doanh nghiệp. Thêm vào đó theo BVSC, mức lãi suất cao hơn cũng buộc các ngân hàng phải cân nhắc kỹ hơn khi muốn vay vốn đồng thời góp phần loại bỏ hiện tượng các ngân hàng không thật sự thiếu thanh khoản cũng vay qua OMO, gây ảnh hưởng đến những đơn vị cần vốn thực sự.

Dồn vốn vào sản xuất

Cùng với việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng xuống còn 23% cho cả năm 2010, NHNN vẫn liên tục phát đi tín hiệu yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung các nguồn vốn kết hợp với điều chỉnh mạnh cơ cấu tín dụng để tăng khối lượng vốn và tỉ trọng cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu. Cũng như dự trữ hàng phục vụ Tết Nguyên đán Tân Mão, cho vay khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt và chi phí sản xuất có hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các nội dung này không khác nhiều so với định hướng được NHNN đưa ra trước đó, trong đó yêu cầu các TCTD giảm dần cơ cấu tín dụng đối với nhóm phi sản xuất trong các tháng cuối năm 2010. Thực tế trong suốt nhiều tuần qua, lãi suất huy động cũng như cho vay VND gần như không hề có điều chỉnh đáng chú ý nào. Ở thời điểm hiện nay, mặt bằng lãi suất phổ biến vẫn ở mức 12,5-14,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu,  15-18%/năm đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác và cao nhất đối với lĩnh vực phi sản xuất, 18-20%/năm.

Dự báo sẽ rất khó để hy vọng về một chính sách tiền tệ nới lỏng sớm, BVSC cũng cho rằng, tiếp tục thắt chặt tiền tệ hơn nữa khi mà mặt bằng lãi suất đã ở mức khá cao sẽ mang đến nguy cơ phá sản cho hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ. BVSC nhận định, lãi suất trong những ngày giáp Tết âm lịch có thể tăng nhưng không đột biến, lạm phát đã ở giai đoạn cuối của đà tăng và CPI sẽ sớm giảm tốc sau Tết âm lịch. Do đó, mọi hoạt động thắt chặt tiền tệ vào lúc này có khả năng dẫn đến nguy cơ thiếu vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dự báo về lãi suất trong thời gian tới, TGĐ Techcombank – ông Nguyễn Đức Vinh - cũng cho rằng, lãi suất sẽ ổn định ở mức hợp lý và quan hệ cung cầu sẽ quyết định lãi suất cho vay trên thị trường. Song dù có điều chỉnh theo hướng nào, các ngân hàng vẫn phải đảm bảo mức chênh lệch giữa giá vốn đầu vào và đầu ra ở mức 3-3,5% mới mong có lãi.

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động đô la, cao nhất 6%/năm

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động đô la, cao nhất 6%/nămSau khi lãi suất huy động bằng tiền đồng đã ổn định quanh mức 14%/năm theo cam kết với Hiệp hội Ngân hàng, nhiều ngân hàng đã bắt đầu tăng lãi suất huy động bằng đô la Mỹ.

Từ ngày 8-1-2011, Ngân hàng Phương Tây (Western Bank) đã tăng lãi suất huy động đô la Mỹ ở các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, kỳ hạn 1 tháng lên 5%/năm, 2 tháng 5,1%/năm, và kỳ hạn 3 tháng lên 5,3%/năm.

Ngân hàng SeABank cũng đã đưa lãi suất huy động đô la Mỹ lên mức cao nhất là 6%/năm. Tại các ngân hàng khác như Kiên Long, Phương Đông, SCB, An Bình... lãi suất huy động đô la cao nhất nằm trong mức từ 5,1%-5,6%/năm.

Chỉ có những ngân hàng lớn có thế mạnh về thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu như Eximbank, ACB, Sacombank… thì lãi suất huy động đô la Mỹ được giữ dưới mức 5%/năm.

Nguyên nhân được đại diện các ngân hàng đề cập đó là để gia tăng thị phần huy động, nhất là thời điểm giáp tết, lượng kiều hối về nhiều nên ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất đô la Mỹ để thu hút nguồn vốn này.

Ông Đỗ Lam Điền, Phó tổng giám đốc Ngân hàng doanh nghiệp thuộc Ngân hàng Hàng Hải, cho biết các ngân hàng tăng cường huy động ngoại tệ một phần là để chuẩn bị cho các kế hoạch trong năm mới. Bên cạnh đó, trong năm qua những ngân hàng có chương trình ưu đãi cho khách hàng như cho vay tiền đồng lãi suất đô la Mỹ, đã dùng đô la huy động bán lấy tiền đồng cho vay, và đến lúc các khoản huy động ngoại tệ đến hạn, thì cần một lượng tương tự để trả cho khách gửi tiền, ông Điền nói.

Ngoài ra, nhu cầu vay ngoại tệ của các doanh nghiệp cũng đã nhích lên nên các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động đô la Mỹ.

Ông Lê Đăng Khoa, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Miền tây (Western Bank), cho biết từ khoảng 3 tháng trở lại đây, lãi suất cho vay tiền đồng và đô la Mỹ chênh lệch nhiều nên khách hàng có xu hướng chuyển sang vay đô la Mỹ, dẫn đến trong gần một tháng nay, lãi suất huy động đô la của các ngân hàng bắt đầu nhích lên. Thêm vào đó, gần đây mảng khách hàng có thanh toán quốc tế của Western Bank khá phát triển nên ngân hàng cũng cần gia tăng nguồn đô la Mỹ.

Ông Khoa cũng cho rằng về ngắn hạn, các doanh nghiệp cũng nghiêng về hướng vay ngoại tệ vì hiện tại chênh lệch lãi suất cho vay giữa tiền đồng và đô la Mỹ đã lên đến 12%/năm, và trong ngắn hạn tiền đồng không thể giảm giá đến 12% so với đô la Mỹ. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu đều chọn vay đô la, ông Khoa nói.

Hiện tại lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ của các ngân hàng khoảng 7%- 8% trong khi lãi suất cho vay bằng tiền đồng đang ở mức 17%- 18%/năm đối với các doanh nghiệp.

Mặc dù cho vay đô la đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, không có nguồn ngoại tệ để trả nợ, là rủi ro cho cả doanh nghiệp và khách hàng nếu đến lúc trả nợ giá đô la tăng cao, nhưng nhiều ngân hàng vẫn cân nhắc để cho vay đối tượng khách hàng này.

Ông Điền cho biết các ngân hàng tùy theo khả năng cung ứng ngoại tệ của mình để cho vay ngoại tệ, ví dụ như ngân hàng đó có nhiều khách hàng là doanh nghiệp xuất khẩu, nhận thấy có thể có đủ nguồn để bán cho các doanh nghiệp nhập khẩu thì sẽ chấp nhận cho vay ngoại tệ đối với đối tượng này. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhập khẩu mở L/C thanh toán, ngân hàng cũng được hưởng phí, hoặc doanh nghiệp có doanh số cao qua ngân hàng thì ngân hàng cũng có lợi, ông Điền nói.

Vì vậy, các ngân hàng cũng cân nhắc để cho vay ngoại tệ với đối tượng là doanh nghiệp nhập khẩu.

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, việc lãi suất huy động ngoại tệ cao cũng là một nguyên nhân đẩy lãi suất tiền đồng lên cao, vì lãi suất ngoại tệ cao sẽ khuyến khích người dân nắm giữ đô la.

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng hạn chế cấp tín dụng bằng ngoại tệ cho việc nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, nhưng đến cuối năm 2010, tăng trưởng tín dụng của toàn ngành là 27,6% so với cuối năm 2009, trong đó cho vay tiền đồng tăng 25,3% và cho vay bằng ngoại tệ tăng đến 37,7%.

VPBank hỗ trợ 70% giá trị căn hộ cho khách hàng Hoàng Anh Gia Lai

VPBank hỗ trợ 70% giá trị căn hộ cho khách hàng Hoàng Anh Gia LaiVPBank sẽ tài trợ cho người mua nhà dự án HAG 4% lãi suất theo thị trường trong 2 năm 2011 và 2012 đồng thời tài trợ độc quyền cho CLB bóng đá HAG trong mùa giải V-League 2011.

Ngày 11/01/2011, CTCP Hoàng Anh Gia Lai (MCK: HAG) đã phối hợp với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) xây dựng chương trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người mua căn hộ của các dự án của HAG. Theo đó, VPBank sẽ hỗ trợ đến 70% giá trị căn hộ trong thời gian 15 năm cho người vay mua mà không cần chứng minh thu nhập và một số thủ tục phức tạp khác. Đồng thời giảm 4% lãi suất theo thị trường trong 2 năm đầu (2011 và 2012).

HAG và VPBank đã hợp tác với nhau trong suốt thời gian qua. Không những các dự án bất động sản tại TPHCM mà còn ở các tỉnh khác kể cả những lĩnh vực khác như cao su, thuỷ điện, khoáng sản....

Năm 2010 vừa qua, dù thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn nhưng lại là năm thành công của HAG, lợi nhuận trước thuế đạt trên 3.000 tỷ đồng, vượt kế hoạch 300 tỷ đồng, tăng 76% so với 2009; trong đó bất động sản chiếm 1.600 tỷ đồng, tỷ lệ hơn 50% lợi nhuận của tập đoàn.

Cũng tại buổi ký kết này, HAG công bố VP Bank là nhà tài trợ độc quyền cho CLB bóng đá của HAG trong mùa giải V-League 2011.

Năm 2010, thị trường bất động sản còn rất khó khăn nhưng HAG vẫn khởi công làm móng 3 dự án: Thanh Bình, Phú Hoàng Anh giai đoạn 2, Incomex có tổng cộng trên 2.300 căn hộ.  Đến nay, phần móng cơ bản đã hoàn thành đủ điều kiện đưa hơn 2.000 căn hộ ra thị trường vào cuối quý I, đầu quý II/2011.

Giá bán các căn hộ trên chưa được tiết lộ, tuy nhiên theo ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị HAG: "Đây là một cuộc chơi lớn, chúng tôi cân nhắc rất kỹ, và không tham vọng bán giá trên trời, như Thanh Bình - Kênh Tẻ chúng tôi có giá bán 1.250 USD/m2 trong khi các dự án lân cận trong khu vực bán giá hơn 2.000 USD/m2". Kế hoạch 2011 chưa tính đến việc bán 3 dự án này.

Ông Đoàn Nguyên Đức nhấn mạnh: “Năm 2011, ông sẽ cố gắng làm cả cổ đông và cổ động viên của HAG  đều vui”.

Maritime Bank đạt 1.518 tỷ đồng LNTT năm 2010

Tính đến hết ngày 31/12/2010, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam - Maritime Bank là 116.000 tỷ, đạt 126% so với kế hoạch năm và tăng 181% so với cùng kỳ năm 2009.

Maritime Bank đạt 1.518 tỷ đồng LNTT năm 2010Lợi nhuận trước thuế và trước trích lập dự phòng là 1.706 tỷ, sau trích lập dự phòng đạt 1.518 tỷ, đạt 126.5% so với kế hoạch năm, tăng 151% so với năm 2009.
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn điều lệ bình quân của Maritime Bank ở mức 46%. Năm 2009, tỷ suất này là gần 50%.
Tới thời điểm hiện tại, mạng lưới hoạt động của Maritime Bank đã có 140 điểm trên toàn quốc. Cùng với việc triển khai chiến lược kinh doanh mới, các điểm giao dịch đều được tái thiết kế để tạo nên một không gian đẹp, chuyên nghiệp, khoa học và tiện dụng cho các hoạt động giao dịch ngân hàng.
 
Ngày 25/12, Maritime Bank đã chốt danh sách cổ đông nhận quyền tham dự ĐHCĐ thường niên 2011. Đại hội dự kiến được tổ chức vào ngày 27/1/2010.
 
Ngân hàng hiện đang trong quá trình chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn từ 3.000 lên 5.000 tỷ đồng.

NHNN tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 7 ngày trên thị trường OMO lên 10,5%/năm

NHNN tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 7 ngày trên thị trường OMO lên 10,5%/nămĐiều này nhằm hạn chế bớt hoạt động đầu cơ lãi suất của một số ngân hàng có tiềm lực vốn lớn, buộc các ngân hàng này tập trung vốn để phát triển tín dụng doanh nghiệp.

 

Lãi suất qua đêm sau khi giảm xuống dưới 10% trong những ngày cuối cùng của tháng 12/2010 thì hiện tại, trong tuần từ 03/01/2011 – 07/01/2011, lãi suất qua đêm đã tăng vọt lên 11,4%, tăng gần 1,4% so với cuối năm 2010.
Lãi suất các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần đồng loạt tăng lên 13,32% và 13,23%, lãi suất kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng duy trì quanh mức 13,5%, riêng lãi suất 1 tháng và lãi suất 12 tháng giảm nhẹ xuống 12,93% và 11,6%, đặc biệt là lãi suất 12 tháng.
Tuần qua, NHNN tiếp tục bơm ròng tuần thứ 2 liên tiếp với giá trị bơm ròng trên 2.400 tỷ đồng. Mức bơm ròng không lớn do mục đích chủ yếu của NHNN hiện nay là duy trì thanh khoản của các NHTM.
Kể từ phiên ngày 06/01/2010, NHNN đã nâng mức lãi suất vay qua OMO cho kỳ hạn 7 ngày lên 10,5%, tăng 0,5% so với mức trước đó. Như vậy trong vòng 3 tháng qua NHNN đã 2 lần nâng mức lãi suất cho vay qua OMO (05/11 tăng lên 8,75%/năm, cuối tháng 11 tăng lên 10%/năm).
Theo CTCK Bảo Việt (BVSC), động thái này của NHNN nhằm hạn chế bớt hoạt động đầu cơ lãi suất của một số ngân hàng có tiềm lực vốn lớn, buộc các ngân hàng này tập trung vốn để phát triển tín dụng doanh nghiệp thay vì “sống trên lưng” các ngân hàng nhỏ. Ngoài ra, mức chênh lệch lãi suất vay qua OMO và thị trường liên ngân hàng hiện ở mức 1 – 2% sẽ hạn chế được hiện tượng một số ngân hàng không thiếu vốn cũng đi vay qua OMO, gây ảnh hưởng đến các ngân hàng đang thực sự thiếu vốn.
Theo BVSC, động thái này của NHNN có thể mang đến bất lợi cho hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp do chênh lệch lãi suất không còn hấp dẫn. Tuy nhiên thời điểm đầu năm hoạt động đấu thầu không mấy sôi động nên động thái này có thể giúp NHNN điều hành lãi suất để chống lạm phát.
BVSC nhận định, lãi suất trong những ngày giáp Tết Âm lịch có thể tăng nhưng không đột biến, lạm phát đã ở giai đoạn cuối của đà tăng và CPI sẽ sớm giảm tốc sau Tết âm Lịch. Mọi hoạt động thắt chặt tiền tệ vào lúc này có khả năng dẫn đến nguy cơ thiếu vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy không có lý do gì để NHNN phải điều chỉnh lãi suất cơ bản hay tăng dự trữ bắt buộc trong thời điểm này.
Hiện tại, tỷ giá đang tăng nhẹ trên thị trường tự do, ở mức 21.050 đồng/USD (mua vào) – 21.120 đồng/USD (bán ra).

LienVietBank lợi nhuận 3 năm hoạt động tăng lên 1.700 tỷ đồng

Kết thúc năm 2010, tổng tài sản của LienVietBank đạt gần 35.000 tỷ đồng, gấp đôi tổng tài sản năm 2009 (17.823 tỷ đồng).
Theo tin từ Ngân hàng TMCP Liên Việt (LienVietBank), đến 30/12/2010, Ngân hàng có tổng tài sản đạt trên 35.000 tỷ đồng, huy động vốn đạt trên 30.000 tỷ đồng, vốn điều lệ đạt 3.650 tỷ đồng.
Lợi nhuận lũy kế sau gần 3 năm ngân hàng hoạt động đạt trên 1.700 tỷ đồng.
Ngày 15/1, ngân hàng sẽ chốt danh sách cổ đông tạm ứng cổ tức đợt 3 năm 2010 với tỷ lệ 3% (1 cổ phiếu nhận 300 đồng). Thời gian chi trả từ 20/1 đến 25/1/2011.
Hiện tại, Ngân hàng Liên Việt có 50 điểm giao dịch trên toàn quốc. Ngày 8/1, ngân hàng vừa khai trương chi nhánh mới tại số 33 Trần Phú – Phường Điện Biên – TP Thanh Hóa.(Nguồn: ĐTCK, 11/1)

Thông tin về hoạt động ngân hàng tháng 12/2010

Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã công bố tình hình hoạt động của ngân hàng trong tháng 12/2010 như sau:

I- CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC:

1. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng:


Trong tháng 12/2010, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng. Cụ thể:


- Giữ nguyên lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn ở mức 9%/năm; Lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng là 7%/năm.


- Tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá nhằm hỗ trợ vốn thanh toán cho các tổ chức tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống, duy trì ổn định thị trường tiền tệ; Thực hiện hỗ trợ vốn cho các tổ chức tín dụng qua hình thức cho vay tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ.


- Trong những ngày đầu tháng 12/2010, trước tình hình lãi suất huy động VND của một số ngân hàng tăng đột biến lên mức 17-18%/năm, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời thực hiện các giải pháp: (i) Yêu cầu các ngân hàng này ngừng ngay việc triển khai thực hiện các sản phẩm huy động lãi suất cao, tránh gây bất ổn thị trường tiền tệ và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, an toàn hệ thống, đồng thời nghiêm túc rút kinh nghiệm về vấn đề này; (ii) Thống nhất với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và các ngân hàng thương mại việc cam kết đồng thuận lãi suất huy động bằng VND (lãi suất tiền gửi, lãi suất giấy tờ có giá…) của các tổ chức và cá nhân, bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm và điều chỉnh giảm phù hợp với tình hình lạm phát và cung – cầu vốn thị trường; niêm yết công khai lãi suất huy động bằng VND tại các địa điểm huy động vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.


- Triển khai thực hiện Chỉ thị số 2164/CT-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ, bình ổn giá cả, thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung các nguồn vốn kết hợp với điều chỉnh mạnh cơ cấu tín dụng để tăng khối lượng vốn và tỷ trọng cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu, dự trữ hàng phục vụ Tết Nguyên đán Tân Mão, cho vay khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt và chi phí sản xuất có hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa.


- Can thiệp bán ngoại tệ ở mức độ thích hợp cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu và thực hiện các biện pháp khác để ổn định thị trường ngoại hối; Theo dõi và dự báo sát tình hình biến động giá vàng quốc tế, cung – cầu vàng trong nước để cho phép nhập khẩu vàng ở mức hợp lý nhằm ổn định giá vàng; Giám sát các tổ chức tín dụng thực hiện Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 về huy động và cho vay bằng vàng của tổ chức tín dụng, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm.


2. Phát triển và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng:


Tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện đúng các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD tại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 và Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010; tổ chức kiểm tra để đánh giá lại tình hình triển khai và xem xét, xử lý các kiến nghị cụ thể của từng tổ chức tín dụng.


3. Triển khai một số nhiệm vụ khác:


- Sau khi triển khai thành công việc kết nối liên thông hệ thống POS trên địa bàn Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo Banknetvn và Smartlink phối hợp với 15 ngân hàng thực hiện thành công việc thí điểm kết nối hệ thống POS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.


- Trước tình trạng một số kẻ gian sử dụng các thiết bị cắt phá ATM để lấy trộm tiền trong két, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, Cục điều tra tội phạm kinh tế  và Cục công an hình sự - Bộ Công an triển khai các biện pháp tăng cường hỗ trợ, phối hợp với các ngân hàng trong việc đảm bảo an toàn cho ATM tại các địa bàn hoạt động, bổ sung máy ATM vào danh sách các điểm trọng yếu cần bảo vệ.


- Thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính của Chính phủ tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 và văn bản hướng dẫn của Thủ tướng Chín phủ, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính.


- Để triển khai đồng bộ, toàn diện những chính sách lớn vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tương xứng với tiềm năng nước ta và trong bối cảnh hội nhập sâu nền kinh tế quốc tế, ngày 10/12/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương và các đơn vị liên quan tổ chức thành công Hội thảo “Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn”.


- Trong tháng 12/2010, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2011. Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2010 và dự báo tình hình năm 2011, Hội nghị đã xác định định hướng mục tiêu, nhiệm vụ của Ngành trong năm 2011. Theo đó NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng, theo nguyên tắc thị trường; phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát và quản lý nhập siêu.


II- MỘT SỐ TÌNH HÌNH  TIỀN TỆ, TÍN DỤNG TRONG THÁNG 12/2010:


1- Lãi suất


Thực hiện đồng thuận lãi suất huy động VND, từ ngày 15/12/2010, lãi suất huy động VND bình quân ở mức 12,44%/năm; lãi suất cho vay bình quân ở mức 14,96%/năm (cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu ở mức 12-14%/năm, lĩnh vực khác là 15-18%/năm). Lãi suất bằng USD ít biến động so với tháng 11/2010, hiện lãi suất huy động USD bình quân là 4,08%/năm, lãi suất cho vay USD bình quân là 6,26%/năm..


2- Tỷ giá

Trên thị trường chính thức, tỷ giá bình quân liên ngân hàng ổn định ở mức 18.932 VND/USD, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại dao động trong khoảng 19.495-19.500 VND/USD. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do có xu hướng giảm nhưng vẫn cao hơn tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại, cuối tháng 12/2010 ở mức 20.980 – 21.080 VND/USD.

Giá vàng trong tháng 12/2010 biến động theo giá vàng thế giới và ở mức 35,95 – 36,07 triệu đồng/lượng.

 3- Huy động vốn


Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 12/2010 ước tăng 1,83% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 27,2% so với cuối năm 2009.

 4- Cho vay nền kinh tế

Tín dụng đối với nền kinh tế đến cuối tháng 12/2010 ước tăng 2,28% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 29,81% so với cuối năm 2009.


 5- Tổng phương tiện thanh toán


Tổng phương tiện thanh toán đến cuối tháng 12/2010 ước tăng 1,87% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 25,3% so với cuối năm 2009; trong đó, tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tăng 2,14% và 15,01% .


Wednesday, 14 April 2010

Lãi suất huy động tại ACB có bất thường?

Biểu lãi suất huy động với nhiều kỳ hạn có từ 11% - 11,6%/năm của ACB bắt đầu áp dụng từ ngày 13/4/2010.

Ngân hàng Á châu (ACB) vừa ban hành biểu lãi suất huy động mới với những mức vượt trội so với mặt bằng chung trên thị trường
Ngân hàng Á châu (ACB) vừa ban hành biểu lãi suất huy động mới với những mức vượt trội so với mặt bằng chung trên thị trường.

Ngày 13/4, ACB ban hành biểu lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán linh hoạt lãi suất thả nổi. Trong đó, nhiều kỳ hạn ở một số loại tiền gửi đồng loạt ở mức cao so với mặt bằng chung hiện nay.

Cụ thể, lãi suất tiền gửi tiết kiệm lãi suất thả nổi bằng VND có mức cao nhất lên tới 11,6%/năm với các khoản tiền gửi có giá trị từ 10 tỷ đồng trở lên. Nhiều kỳ hạn khác, ứng với các khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng đến dưới 10 tỷ đồng cũng đồng loạt được áp lãi suất từ 10,7% - 11,58%/năm.

Tương tự, lãi suất tiền gửi thanh toán VND từ kỳ hạn 2 tháng trở lên cũng có từ 10,48% (khoản tiền dưới 100 triệu đồng) đến 11,6%/năm (từ 10 tỷ đồng); phổ biến trên 10,5%/năm.

Những mức lãi suất huy động trên của ACB vượt trội so với biểu lãi suất mà hầu hết các ngân hàng thương mại đang áp dụng (mức cao nhất phổ biến ở 10,499%/năm).

Trả lời VnEconomy chiều nay (14/4), ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng giám đốc ACB, cho rằng biểu lãi suất vừa ban hành đó không có gì là bất thường.

Theo giải thích của ông Toại, trước đây, ACB cũng như nhiều ngân hàng khác áp lãi suất huy động VND tối đa là 10,49%/năm. Tuy nhiên, bên cạnh lãi suất ngân hàng còn bỏ ra nhiều chi phí khác để thu hút người gửi tiền như tặng vàng, tặng tiền mặt, cộng thưởng lãi suất hay các hình thức khuyến mại khác.

“Thực chất, các hình thức khuyến mại và chi phí thêm đó cũng đã gián tiếp tạo những mức lãi suất như ACB vừa ban hành. Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích các ngân hàng mở rộng các chương trình tặng thưởng, khuyến mại đó và chúng tôi tập trung ở lãi suất huy động”, ông Toại giải thích.

Nhưng liệu biểu lãi suất mới của ACB có vượt “trần” 10,5%/năm mà Ngân hàng Nhà nước định hướng trước đó?

Về câu hỏi trên, ông Toại cho rằng hiện không có quy định nào về trần lãi suất huy động cả. Trước đây Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức 10,5%/năm là một tiêu chí để kiểm tra xem những trường hợp nào đưa lãi suất vượt mốc đó có vấn đề về thanh khoản hay không. Và nếu xét theo thực tế, nếu tính các chi phí gián tiếp nói trên thì hầu hết các ngân hàng đều có lãi suất cao hơn mốc định hướng này.

Một câu hỏi khác, với lãi suất huy động cao như vậy, ACB có điều kiện để áp lãi suất cho vay đầu ra “mềm” hơn, hay giữ được tỷ lệ lãi biến hợp lý?

Điều này cũng được ông Toại giải thích rằng, về cơ bản chi phí huy động vẫn không nhiều thay đổi với với việc áp tối đa 10,49%/năm trước đó, nên ACB vẫn giữ được những yêu cầu trong hoạt động cho vay; cũng như dự báo lãi suất cho vay nói chung có thể tiếp tục giảm thêm.

Phó tổng giám đốc ACB cho biết hiện đã lên kế hoạch dành 20.000 tỷ đồng cho vay với lãi suất tối đa 14%/năm, tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp xuất khẩu – những khách hàng mục tiêu của ngân hàng này.

(Theo Vneconomy)

Vàng đứng giá, đôla Mỹ xuống dưới 19.000 đồng

Lần đầu tiên trong vòng nhiều tháng, niêm yết mua đôla Mỹ trên thị trường chợ đen lùi sâu dưới mức 19.000 đồng. Trong khi đó, giá bán vàng vẫn giữ nguyên ở quanh 26,49 triệu đồng từ chiều qua.

Thương hiệu vàng SJC tại TP HCM hiện được mua và bán ở 26,43 - 26,49 triệu đồng. Tuy đắt hơn sáng qua 40.000 đồng nhưng giá nay vẫn đứng yên so với chiều 14/4. Tại Hà Nội, các doanh nghiệp bán vàng SJC cao hơn 20.000 đồng nhưng vẫn mua ở 26,43 triệu đồng một lượng.

Nhiều thương hiệu vàng ở Hà Nội vẫn giữ nguyên mức niêm yết từ chiều qua đến nay, sau khi điều chỉnh tăng khoảng 30.000 đến 40.000 đồng so với sáng 14/4. Vàng SBJ của công ty vàng bạc đá quý Sacombank SBJ được niêm yết đầu ngày ở 26,44 - 26,48 triệu đồng một lượng. So với sáng qua, giá nay nhích nhẹ 20.000 đồng.

Trong khi đó, đôla Mỹ trên thị trường chợ đen vẫn trên đà giảm dần đều. Sau khi niêm yết ở mức 19.030 - 19.060 (mua - bán) hôm thứ ba, sáng nay giá bán USD chợ đen chỉ còn 19.020 đồng. Cùng lúc đó, lần đầu tiên kể từ tháng 11 năm ngoái, các điểm thu đổi ngoại tệ đưa niêm yết mua USD xuống dưới 19.000 đồng, chỉ còn 18.980 đồng một USD. Đây là lần đầu tiên giá mua đôla Mỹ trên thị trường tự do xuống dưới 19.000 đồng, sau khi có diễn biến leo thang hồi tháng 11 năm ngoái.

đôla Mỹ
Các ngân hàng thương mại bán đôla Mỹ với giá chỉ từ 19.000 đến 19.020 đồng trong sáng nay. Ảnh: Hoàng Hà

Giá USD của các ngân hàng thương mại cũng có mức giảm khá mạnh. Ngân hàng Vietcombank hiện niêm yết mua bán đôla Mỹ ở 18.970 - 19.020 đồng, hạ 40 đồng so với hôm 13/4. Eximbank còn để giá thấp hơn, mua bán tại 18.950 - 19.010 đồng một USD tính đến 8h57 sáng nay. Tại ngân hàng ACB, giá bán mỗi USD chỉ còn 19.000 đồng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay leo từ mức 1.153 USD lên có lúc vượt 1.160 USD một ounce trong phiên giao dịch hôm qua. Đến phiên châu Á sáng nay, mỗi ounce vàng tiếp tục tăng 2,2 USD so với mở cửa, đạt 1.157 USD tính đến 8h48 theo giờ Hà Nội. Hôm thứ 2, có lúc thị trường đạt đỉnh cao nhất kể từ 4/12 năm ngoái ở 1.168,70 USD.

Đôla Mỹ vẫn trong thế phòng ngự trong sáng thứ 5 khi các loại tiền khác như đôla Australia tiếp đà tăng trong khả năng Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ. Viễn cảnh này có thể tiếp sức cho đà tăng trên thị trường vàng do khi nhân dân tệ tăng giá, vàng sẽ trở nên rẻ hơn đối với những người sở hữu đồng tiền này. Bên cạnh đó, khi Trung Quốc chịu tăng giá đồng nội tệ là lúc họ đã nhìn thấy nguy cơ lạm phát.

Hôm nay, nhà đầu tư đang chờ thông tin GDP quý 1 và chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 của Trung Quốc để đánh giá tình hình kinh tế nước này. Cũng trong ngày, Mỹ sẽ công bố báo cáo số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần.


(Theo Vnexpress)

Không nhân nhượng với ngân hàng ốm yếu

Những trường hợp không tăng đủ vốn điều lệ theo quy định hoặc gặp khó khăn về thanh khoản sẽ ít cơ hội trông cậy vào sự bao bọc của Nhà nước như trước.

Thông điệp này được cơ quan quản lý nhà nước kín đáo phát đi thời gian gầy đây, khi lường trước khả năng một số ngân hàng không đáp ứng yêu cầu tài chính.

Theo quy định của Chính phủ, 31/12/2010 là hạn chót để các ngân hàng cổ phần phải tăng vốn lên ít nhất 3.000 tỷ đồng. Trong tổng số 37 ngân hàng cổ phần đang hoạt động, khoảng 20 trường hợp chưa đạt mức vốn yêu cầu. Thế nhưng từ đầu năm tới nay, mới có 6 hồ sơ xin tăng vốn được duyệt, trong đó 3 hồ sơ đến từ những ngân hàng vốn trên 3.000 tỷ. Hai ngân hàng trong số này là Kiên Long và Saigon Bank, lần lượt xin nâng lên 2.000 tỷ và 1.500 tỷ.

Tăng vốn điều lệ là bài toán khó giải của các ngân hàng  nhỏ năm nay. Ảnh: Hoàng Hà
Tăng vốn điều lệ là bài toán khó giải của các ngân hàng nhỏ năm nay. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Cuối tháng này, mùa đại hội cổ đông mới kết thúc nhưng cũng đủ để người ta hình dung cách mà các ngân hàng thương mại cổ phần giải bài toán tăng vốn điều lệ. Phần đông chọn con đường tăng vốn thông qua cổ đông hiện hữu, số khác tìm đối tác trong, ngoài nước hoặc tính chuyện niêm yết. Tuy nhiên, việc có quá nhiều ngân hàng cùng lúc tìm cách tăng vốn sẽ khiến mục tiêu 3.000 tỷ trở nên xa vời với một số ngân hàng không lấy làm khỏe mạnh.

Đại hội cổ đông của Ngân hàng Phương Đông (OCB) hôm 12/4 đã thông qua phương án tăng vốn từ 2.000 tỷ lên 3.100 tỷ đồng. OCB sẽ tăng vốn thông qua việc phát hành từ thặng dư vốn, phát hành mới cho cổ đông hiện hữu, bán thêm cho đối tác chiến lược nước ngoài và bán chọn lọc cho đối tác trong nước. Kế hoạch niêm yết trong năm nay cũng đã được cân nhắc.

Trong số 20 ngân hàng đang trên đường đua về đích 3.000 tỷ đồng, Gia Định Bank phải chạy quãng đường dài nhất. Vốn điều lệ của ngân hàng hiện là 1.000 tỷ đồng. Theo như nghị quyết đại hội cổ đông của ngân hàng, dự kiến việc tăng vốn lên 2.000 tỷ sẽ hoàn tất vào tháng 8 và đợt cuối sẽ hoàn tất vào tháng 11 năm nay.

Trong đợt một, Gia Định sẽ phát hành gần 3,6 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và phát hành 94,6 triệu cổ phần chào bán cho cổ đông hiện hữu. Trong đợt tăng vốn lần hai lên 3.000 tỷ đồng, ngân hàng sẽ chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu và bán nốt số cổ phần nếu chưa bán hết trong đợt một.

Ngân hàng cũng dự trù sẵn khả năng xử lý số cổ phần không chào bán hết bằng cách tiếp tục chào bán cho các nhà đầu tư trong nước có nhu cầu với mức giá và điều kiện phù hợp, nhưng không thấp hơn giá chào bán cho cổ đông hiện hữu và có thể xin phép Ủy ban Chứng khoán cho gia hạn thời gian chào bán nếu vẫn chưa bán hết.

Theo báo cáo kết quả kinh doanh của Gia Định Bank, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn tự có bình quân đạt 5,13% và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân đạt 1,97%.

Ông Trần Thiên Hà, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán An Phát cho biết cổ phiếu ngân hàng giờ không còn là vua trên thị trường chứng khoán. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô hiện nay và với cách huy động vốn của các ngân hàng, cơ hội thành công trong việc nâng vốn điều lệ không dành cho những ngân hàng chiếu dưới, với mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 11-12%.

“Các ngân hàng có thể sẽ phải tự niêm yết, tự lấy tiền đó cho vay để họ tự nâng vốn của mình lên. Việc niêm yết hoàn toàn là giải pháp kỹ thuật để tăng vốn, còn sau đó phải đắp chiếu chờ thời. Có thể năm sau thị trường ấm lên, cổ phiếu ngân hàng lại có thể bán ra nhưng chi phí cơ hội cực kỳ lớn,” ông Hà nói.

Việc bán cho cổ đông hiện hữu về nguyên tắc không thể dưới mệnh giá. Trong khi giá cổ phiếu đang giao dịch loanh quanh ở mức mệnh giá và thanh khoản rất thấp thì nhiều cổ đông sẽ từ chối quyền mua. Thực tế hiện nay nhiều ngân hàng đang mắc vào tình trạng như vậy.

“Các ngân hàng năm nay lên sàn như MB, Habubank, Đông Á… sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư. Nên các ngân hàng nhỏ sẽ bị lãng quên nhiều. Thực ra giao dịch thấp thì mức độ đại chúng hóa sẽ kém, dẫn tới việc tăng vốn sẽ rất vất vả vì cổ đông hiện hữu chưa chắc đã tham gia,” ông Hà giải thích thêm.

Ông Đoàn Đức Vịnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Chứng khoán Âu Việt cho biết đa phần các ngân hàng trước sức ép tăng vốn sẽ tìm đến các tổ chức trong và ngoài nước.

“Hiện tại là thời điểm xấu để niêm yết nhưng về dài hạn vẫn thành công. Đây là cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài mua được cổ phần với tỷ lệ cao tại một ngân hàng Việt Nam hoặc sẽ có sự thâu tóm, mua bán sáp nhập với nhau giữa các ngân hàng”, ông Vịnh nhận định.

Trao đổi với VnExpress.net, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tuyên bố sẽ quyết thực hiện nghiêm lộ trình tăng vốn và không có sự nhân nhượng. Ngân hàng Nhà nước có các biện pháp khác nhau để xử lý những trường hợp không tăng đủ vốn theo quy định, trong đó có phương án buộc sáp nhập.

Từ đầu năm tới nay, Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị hành lang pháp lý phòng cho trường hợp phải xử lý các ngân hàng có vấn đề. Gần đây nhất, cơ quan này đã ban hành thông tư quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Trước đó, thông tư quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng cũng đã được ban hành. Dự thảo thông tư hướng dẫn thu hồi giấy phép ngân hàng và thanh lý dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước cũng đang trong giai đoạn lấy ý kiến. Theo một nguồn tin không chính thức, Ngân hàng Nhà nước cũng đã lập tổ công tác về mua bán sáp nhập các ngân hàng.

37 ngân hàng cổ phần của Việt Nam hiện nay chia ra nhiều nhóm khác nhau, tùy theo năng lực tài chính và quy mô hoạt động. Trong số này, không ít những trường hợp có lịch sử hoạt động yếu, được bơm vốn thêm và nâng cấp để tồn tại song vẫn chưa thể theo kịp mặt bằng, thậm chí đôi khi còn gây khó khăn cho thị trường chung.

Không phải vô tình mà trong Nghị quyết số 18 ngày 6/4, Chính phủ đưa ra yêu cầu bảo đảm ổn định, an toàn hệ thống tài chính ngân hàng, coi đây là một trong sáu giải pháp tiên quyết nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng; tăng cường kiểm tra, giám sát để đánh giá thực trạng hoạt động của từng tổ chức tín dụng và của toàn bộ hệ thống để có phương án xử lý kịp thời khi cần thiết.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết tới đây Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét xiết lại quy định thành lập ngân hàng cổ phần, trong đó dự kiến hạ tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân xuống còn một nửa so với hiện nay, để nâng cao tính đại chúng của ngân hàng, tránh nguy cơ một nhóm nhỏ cổ đông chi phối hoạt động ngân hàng.

Cơ quan này cũng sẽ nâng cao quy định về rủi ro trong hệ thống, đồng thời yêu cầu công khai minh bạch các đánh giá, xếp hạng ngân hàng. Thậm chí, danh sách những ngân hàng thuộc diện phải "bú sữa mẹ" sẽ được công bố ra công chúng nếu họ muốn nhận những đồng vốn cứu trợ từ Nhà nước.


(Theo Vnexpress)

USD tự do thấp hơn giá ngân hàng

USD giảm sâu hơn. Ảnh:VNN.
Giá USD tiếp tục giảm trong ngày 14/4. Lần đầu tiên, giá USD ngoài thị trường tự do thấp hơn cả giá ngân hàng. Giá USD tự do trên thị trường hiện là 19.010 - 19.040 đồng/USD, giảm10 - 20 đồng so với ngày hôm qua.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục giữ tỷ giá liên ngân hàng ở mức 18.544 đồng/USD. Tại các ngân hàng thương mại, giá USD được niêm yết ở mức 18.980 - 19.050 đồng/USD, giảm 10 đồng so với ngày 13/4.

Với mức giá trên, giá bán ra của ngân hàng thương mại đã cao hơn cả giá trên thị trường tự do. Đây có thể là lần đầu tiên diễn ra hiện tượng này.

Điều này cho thấy, tình hình cung cầu USD đã được giải quyết thỏa đáng. Chính sách neo tỷ giá ở mức cao để đưa hai loại tỷ giá trong và ngoài ngân hàng về gần nhau đã được thực hiện.

(Theo VietnamNet)

Lấp “lỗ hổng” pháp lý trên thị trường chứng khoán

Sau 3 năm thực hiện Luật Chứng khoán, mức vốn hoá của thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 2,6 lần.
Sau 3 năm được thi hành, Luật Chứng khoán (LCK) đã bộc lộ một số hạn chế buộc Bộ Tài chính phải xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật này.

Ông Trần Xuân Hà, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, sau 3 năm thực hiện LCK, thị trường chứng khoán khoán (TTCK) đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận như mức vốn hoá của thị trường tăng 2,6 lần; khối lượng giao dịch tăng 14 lần... Đặc biệt, trong 3 năm qua, tổng khối lượng vốn huy động qua TTCK phục vụ cho đầu tư phát triển lên tới 200.000 tỷ đồng, luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được đổ vào Việt Nam thông qua TTCK tăng từ mức 4,5 tỷ USD lên trên 10 tỷ USD.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của TTCK, nhiều quy định trong LCK liên quan tới phát hành cổ phiếu riêng lẻ, phát hành cổ phiếu ra công chúng, cổ phần hoá gắn với TTCK... đã bộc lộ nhiều hạn chế, cần phải được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật chặt chẽ hơn.

Đây là một trong những lý do cơ bản khiến Bộ Tài chính phải đề nghị Chính phủ trình Quốc hội Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung LCK.

Ngoài ra, việc sửa đổi, bổ sung LCK còn phải hướng tới thu hẹp thị trường tự do, lành mạnh hoá và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường, góp phần thúc đẩy thị trường vận hành công khai, minh bạch. Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Vũ Văn Ninh thường xuyên yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước khi tiến hành cổ phần hoá phải gắn với việc niêm yết hoặc giao dịch cổ phiếu trên TTCK có tổ chức. Tuy nhiên, trên thực tế, do LCK hiện hành không có quy định bắt buộc, nên hầu hết doanh nghiệp (DN) sau khi cổ phần hoá không thực hiện yêu cầu này. Điều này đã góp phần thúc đẩy giao dịch trên thị trường tự do, vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, chứa đựng nhiều nguy cơ lừa đảo do nhà đầu tư không có thông tin đầy đủ, thông tin không chính thống, thiếu minh bạch... và đặc biệt không chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.

Để lấp “lỗ hổng” pháp lý này, Bộ Tài chính dự định sẽ nâng điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng (phát hành cổ phiếu cho trên 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp), ngoài việc đáp ứng đủ vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên; hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm chào bán phải có lãi..., còn phải có kế hoạch và cam kết đưa cổ phiếu giao dịch tại TTCK có tổ chức trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng.

Một trong những “lỗ hổng” nữa của LCK hiện hành là không có quy định nào về việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ (phát hành cho dưới 100 nhà đầu tư). Tận dụng “lỗ hổng” này, năm 2008 và 2009, nhiều DN thay vì phát hành cổ phiếu ra công chúng, đã tiến hành nhiều đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ và phân phối cổ phiếu ra đại chúng thông qua việc mua đi, bán lại quyền mua, không bảo đảm lợi ích của các cổ đông hiện hữu.

Để bịt “lỗ hổng” này, đầu năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2010/NĐ-CP hướng dẫn việc chào bán riêng lẻ. Theo nghị định này, tổ chức phát hành cổ phiếu riêng lẻ phải có quyết định của đại hội đồng cổ đông, HĐQT, hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty, đại hội nhà đầu tư thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán. Việc chuyển nhượng cổ phần phát hành riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu 1 năm, kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành. Các đợt phát hành riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 6 tháng.

Ông Nguyễn Băng Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Sản xuất - Kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Thạnh, Phó chủ tịch Câu lạc bộ Các DN niêm yết nhận xét, trong 3 quý đầu năm 2009, rất nhiều DN đại chúng đã thực hiện phát hành cổ phiếu tăng vốn, chia tách cổ phiếu thưởng với các tiêu chí phát hành theo quy định tại LCK là cần có vốn điều lệ 10 tỷ đồng và hoạt động kinh doanh có lãi, không có lỗ lũy kế, có phương án sử dụng vốn. Tuy nhiên, quy định này quá đơn giản, bởi nếu chỉ yêu cầu DN có lãi không là chưa đủ, phải xem lãi ở mức nào mới được phát hành, phương án sử dụng vốn từ đợt phát hành ra sao...

“Tôi hy vọng, LCK sửa đổi lần này sẽ có các quy định chặt chẽ hơn về việc giám sát phương án sử dụng vốn của DN. Một thực tế hiện nay là một số DN phát hành cổ phiếu huy động vốn, nhưng 2 tháng sau lại công bố mua cổ phiếu quỹ. Thực trạng này khiến nhiều người đặt câu hỏi DN thực sự cần vốn cho phát triển kinh doanh hay vì mục đích khác? Rõ ràng, pháp luật cần có những quy định buộc DN phải thể hiện rõ trách nhiệm với cổ đông khi sử dụng đồng vốn của cổ đông trong các hoạt động kinh doanh tại DN”, ông Tâm nói.

(Theo Đầu Tư)

Tuesday, 13 April 2010

Ngân hàng đầu tiên vượt rào lãi suất huy động

Với biểu lãi suất Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) công bố hôm qua, lần đầu tiên sau hơn một năm, thị trường ngân hàng có mức lãi suất huy động chính thức trên 10,5%.

Kể từ 13/4, lãi suất huy động cao nhất tại ACB lên tới 11,6% một năm, áp dụng cho khách gửi từ 10 tỷ đồng trở lên, với kỳ hạn 36 tháng và lãi suất thả nổi 12 tháng (12 tháng điều chỉnh lãi suất một lần phù hợp với diễn biến thị trường). Với loại hình tiết kiệm này, khách gửi tiền sẽ được lợi nếu lãi suất có xu hướng tăng trong tương lai và ngược lại.

Mức đỉnh 11,6% cũng áp dụng cho loại hình tiết kiệm thông thường, khi khách gửi trên 10 tỷ đồng, kỳ hạn 13 tháng và lĩnh lãi cuối kỳ.

Đáng chú ý, với loại hình tiết kiệm thông thường, lãi suất kỳ hạn một tháng trở lên đều dâng trên mốc 10,5% một năm. Với kỳ hạn trên 3 tháng đến 13 tháng, nếu khách lĩnh lãi cuối kỳ sẽ hưởng lãi suất trên 11%. Hai kỳ hạn còn lại (24 và 36 tháng), lãi suất gần bằng nhau và thấp hơn kỳ hạn 13 tháng.

Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời  gian tới. Ảnh: Hoàng Hà
Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời gian tới. Ảnh: Hoàng Hà

Đây là lần đầu tiên sau hơn một năm, lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng chính thức lên trên 10,5%. Tháng 2/2009, lãi suất cơ bản giảm từ mức 8,5% xuống còn 7% một năm. Theo quy định lãi suất kinh doanh của các ngân hàng không vượt 150% lãi suất cơ bản, nên lúc đó lãi suất huy động bị khống chế dưới 10,5%.

Đến tháng 12/2009, lãi suất cơ bản tăng trở lại, lên mức 8% một năm, song để đảm bảo ổn định lãi suất cho vay, các ngân hàng được khuyến cáo tiếp tục huy động dưới 10,5%. Tuy nhiên, do áp lực cạnh tranh hút vốn, ngoài lãi suất niêm yết công khai dưới 10,5%, phần lớn các ngân hàng đều khuyến mãi, thưởng thêm và đẩy lãi suất thực trả cho khách lên cao hơn quy định.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước chủ trương tự do hóa lãi suất, cho phép các ngân hàng tự thỏa thuận lãi suất cho vay với khách hàng, thay vì bị khống chế bởi quy định không vượt 150% lãi suất cơ bản. Các ngân hàng cũng đề nghị dỡ trần lãi suất huy động 10,5%, thay vào đó sẽ xóa bỏ khuyến mãi và dần hình thành mặt bằng lãi suất theo cung cầu thị trường.

Một ngày sau quyết định gây sốc của ACB, chưa ngân hàng nào tuyên bố thay biểu lãi suất huy động. Bà Cao Thúy Nga, Phó tổng giám đốc Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB) cho biết sẽ cân nhắc điều chỉnh nếu trần lãi suất huy động trên thị trường được dỡ bỏ. Tuy nhiên theo bà Nga, mức tăng sẽ không lớn và cũng chưa tiến hành ngay bởi thanh khoản của ngân hàng hiện ổn định, nguồn vốn huy động đang tăng khá, đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng.

Tại cuộc gặp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gần đây, các ngân hàng lớn cho biết sẽ ngừng khuyến mãi và ổn định lãi suất huy động ở mức 11-12%, sau đó giảm dần để bớt sức ép với lãi suất cho vay.


(Theo Vnexpress)

Tuesday, 22 December 2009

Nhận định thị trường chứng khoán ngày 23/12

VCSC cho rằng, đối với những nhà đầu tư không chấp nhận rủi ro cao, có thể chờ đợi cho đến khi Ngân hàng Nhà nước có những điều chỉnh chính sách và việc quản lý dòng tiền vào chứng khoán cởi mở hơn - Ảnh: VNDS.

VnEconomy giới thiệu nhận định của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường ngày 23/12
VnEconomy giới thiệu nhận định của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường ngày 23/12.

Chiến lược đầu tư trung và dài hạn gặp nhiều thuận lợi

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt - BVSC)

“Trong bối cảnh các thông tin hỗ trợ thị trường chưa thực sự tạo được yếu tố đột biến và thị trường vẫn đang chịu tác động chi phối bởi các yếu tố mang tính ngắn hạn, các nhà đầu tư ngắn hạn có thể sẽ tiếp tục phải chịu thử thách về lòng kiên nhẫn trước khi có thể gia nhập vào thị trường.

Ngược lại, chiến lược đầu tư trung và dài hạn lại đang gặp nhiều thuận lợi khi mặt bằng giá cổ phiếu đã xuống đến mức tương đối thấp và triển vọng tăng trưởng của một số nhóm ngành trong thời gian tới đang được đánh giá cao.

Như vậy, các nhà đầu tư trung và dài hạn có thể tiếp tục chiến lược mua gom từng bước trong những nhịp điều chỉnh của thị trường nhưng cần điều chỉnh và cân đối tỷ trọng cổ phiếu/tiền mặt phù hợp với từng giai đoạn và khả năng chấp nhận rủi ro của mỗi người”.

Tâm lý chung của thị trường hiện vẫn khá lạc quan

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM - HSC)

"Việc lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng trong bối cảnh nhu cầu vốn về cuối năm đang dần đạt đến đỉnh điểm và sự biến động trên thị trường tiền tệ đã khiến các nhà đầu tư hôm 22/12 trở nên thận trọng.

Ngược lại, chỉ số CPI tháng 12 của Hà Nội và Tp.HCM được công bố đã giúp dự đoán CPI tháng 12 của cả nước sẽ không tăng cao như dự kiến.

Do đó, tâm lý chung của thị trường hiện tại vẫn khá lạc quan. Sau một số phiên tăng mạnh, thì có thể các nhà đầu tư sẽ chốt lời một chút nhưng chúng tôi vẫn hy vọng thị trường sẽ tăng tiếp trong vài ngày tới. Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng thị trường sẽ tăng liên tiếp (mà sẽ có những phiên giảm xen kẽ). Các nhà đầu tư ngắn và dài hạn nên mua vào khi thị trường giảm trong những ngày tới".

Nhà đầu tư dài hạn vẫn có thể tiếp tục giải ngân

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Âu Việt - AVSC)

“Phiên hôm 22/12, trên HOSE được hỗ trợ khá lớn từ việc khối ngoại - giao dịch chiếm đến 13,09% giá trị toàn thị trường - mua ròng đến 177,5 tỷ đồng, đây là giá trị mua cao nhất từ đầu tháng 12.

Khối lượng giao dịch gia tăng đáng kể nhưng khối lượng giao dịch ở mức giá trần là không nhiều. Đến cuối phiên có đến gần 50% cổ phiếu giảm giá, điều này cho thấy áp lực chốt lời là khá rõ, lực cầu vẫn còn khá lớn nhưng dư mua cuối phiên đã không còn mạnh mẽ như những phiên trước.

Chúng tôi cho rằng, tâm lý chốt lời vẫn còn tiếp diễn trong những phiên tới khi cổ phiếu bắt đáy thứ năm tuần trước về tài khoản, đây sẽ là rủi ro cho nhà đầu tư ngắn hạn, nhà đầu tư dài hạn vẫn có thể tiếp tục giải ngân vào các nhóm cổ phiếu tiềm năng”.

Thị trường vẫn còn thiếu những tin tức hỗ trợ đủ mạnh

(Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt - VCSC)

“Trước những biến động mạnh của thị trường, sự thận trọng khi tham gia thị trường là tâm lý chung của các nhà đầu tư. Những phiên tăng điểm mạnh vẫn chưa thể tạo cho các nhà đầu tư niềm tin về xu hướng hồi phục bền vững của thị trường.

Yếu tố giá cổ phiếu đã giảm về mức hấp dẫn là lý do chính thuyết phục nhiều nhà đầu tư quay trở lại thị trường. Chiến lược của các nhà đầu tư đang sử dụng tỏ ra rất đơn giản: chốt lời ngay khi có thể. Và do đó, những phiên điều chỉnh tất yếu sẽ xuất hiện chỉ sau một vài phiên tăng nóng.

Thị trường vẫn còn thiếu những tin tức hỗ trợ đủ mạnh để nâng đỡ xu hướng hồi phục. Mặc dù bức tranh kết quả kinh doanh khả quan của các công ty niêm yết trong quý 4 phần nào đã được hé lộ nhưng chúng tôi cho rằng những công bố chính thức về lợi nhuận quý 4 sẽ không có nhiều tác động đến thị trường do đã được phản ánh vào giá trị cổ phiếu.

Hơn nữa, các giới hạn của chính sách tín dụng là yếu tố ngăn cản sự hồi phục của thị trường thông qua việc hạn chế nguồn cung của những dòng tiền mới. Hiện tại, tâm lý phục hồi là yếu tố hỗ trợ tích cực nhất cho thị trường.

Do đó, đối với những nhà đầu tư không chấp nhận rủi ro cao, có thể chờ đợi cho đến khi Ngân hàng Nhà nước có những điều chỉnh chính sách và việc quản lý dòng tiền vào chứng khoán cởi mở hơn”.

* Nhận định thị trường của các công ty chứng khoán được VnEconomy trích dẫn chỉ có giá trị như một nguồn thông tin tham khảo. Các công ty chứng khoán có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi đưa ra nhận định.-Theo Vneconomy

Monday, 21 December 2009

Lãi suất bình quân qua đêm tăng 0,66%/năm, lên 10,71%/năm

Lãi suất bình quân qua đêm tăng 0,66%/năm, lên 10,71%/năm

So với tuần từ 4-10/12, doanh số giao dịch liên ngân hàng tuần từ 11-17/12 tăng lên đối với cả VND và USD (tăng 8.507 tỷ đồng và 580 triệu USD).


Thống kê từ NHNN, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tuần qua đạt xấp xỉ 120.350 tỷ VND và 2.033 triệu USD, bình quân đạt khoảng 24.070 tỷ VND và 406 triệu USD/ngày.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, so với tuần trước, doanh số giao dịch tuần từ 11-17/12 này có sự tăng lên đối với cả VND và USD (tăng 8.507 tỷ đồng và 580 triệu USD).

Doanh số giao dịch kỳ hạn qua đêm và 1 tuần chiếm tỷ trọng lớn nhất; trong đó tổng doanh số giao dịch kỳ hạn 1 tuần là 55.293 tỷ VNĐ, chiếm 46% so với tổng doanh số giao dịch.

Lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng tuần từ 11-17/12 có xu hướng tăng so với tuần trước đó và mức lãi suất bình quân của tất cả các kỳ hạn đã tăng lên mức trên 10%/năm.

Mức dao động của các kỳ hạn từ 0,24% đến 1,08%/năm, trong đó lãi suất bình quân kỳ hạn 6 tháng có mức tăng lớn nhất. Lãi suất cho vay thấp nhất là 5,00%/năm; lãi suất cho vay cao nhất là 12%/năm (không tính lãi suất không kỳ hạn).

Lãi suất bình quân qua đêm tuần từ 11-17/12 ở mức 10,71%/năm, tăng 0,66%/năm so với kỳ trước; lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại đều từ 11,30%/năm trở lên. Riêng lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần là 11,66%/năm (đây là kỳ hạn có doanh số phát sinh lớn nhất); lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng là 12%/năm .

So với tuần trước (4-10/12), lãi suất giao dịch bình quân bằng USD có xu hướng giảm đối với các kỳ hạn ngắn và tăng ở các kỳ hạn dài (3 tháng đến 12 tháng). Lãi suất bình quân qua đêm là 0,85%/năm (giảm 0,09% so với kỳ trước). Lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động ở mức 1,53% đến 3,82%/năm, không phát sinh giao dịch kỳ hạn 6 tháng.

Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng tuần từ 11-17/12 cụ thể như sau:

Đơn vị: %/năm

Kỳ hạn

Qua đêm

1 tuần

2 tuần

1 tháng

3 tháng

6 tháng

12 tháng

VND

10,71

11,66

11,30

11,64

11,69

11,58

12,00

USD

0,85

1,53

1,82

2,79

2,26

-

3,82


Về ngoại hối, trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đánh giá thị trường ngoại hối đã có những chuyển biến tích cực hơn.

Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, lượng ngoại tệ bán ra từ các tổ chức kinh tế bước đầu có xu hướng tăng. Hiện tỷ giá niêm yết mua, bán VND/USD của các ngân hàng thương mại phổ biến quanh mức 18.475/18.479 đồng/USD.

Ngân hàng Nhà nước cho biết đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá tương đối ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn.

V.Minh
Theo SBV

TP HCM: Phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân là 25.000 đồng/giấy

TP HCM: Phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân là 25.000 đồng/giấy

Phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình tại các quận là 25.000 đồng/ giấy; đối với các tổ chức là 100.000 đồng/giấy.


HĐND TPHCM vừa ban hành Nghị quyết về thu lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn TP HCM.

Phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình tại các quận là 25.000 đồng/ giấy; đối với các tổ chức là 100.000 đồng/giấy.

Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và giấy chứng nhận chỉ có tài sản gắn liền với đất, đối với cá nhân, hộ gia đình thu 100.000 đồng/giấy, đối với tổ chức thu 200.000 đồng/giấy cho diện tích dưới 200.000 m2, 350.000 đ/giấy cho diện tích từ 500 đến dưới 1.000 m2 và 500.000 đ/giấy cho diện tích trên 1.000 m2.

Mức thu phí chứng nhận đăng ký thay đổi chỉ có quyền sử dụng đất sau khi cấp giấy chứng nhận đối với cá nhân và hộ gia đình trên địa bàn quận là 15.000 đồng/lần; trên địa bàn huyện là 7,500 đồng/lần. Mức thu đối với tổ chức là 20.000 đồng/lần.

Mức thu phí chứng nhận đăng ký thay đổi có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và đăng ký thay đổi chỉ có tài sản gắn liền với đất sau khi cấp giấy chứng nhận là 50.000 đồng/lần

Cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn quận là 20.000 đồng/lần, trên địa bàn huyện là 10.000 đồng/lần; đối với tổ chức là 20.000 đồng/lần.

Mức thu phí cấp lại giấy chứng nhận có đăng ký thay đổi tài sản trên đất là 50.000 đồng/lần.

Đơn vị thu lệ phí được để lại 10% lệ phí thu được từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chứng nhận đăng ký thay đổi chỉ có quyền sử dụng đất và 100% lệ phí thu được từ các loại thu lệ phí khác

K.T

Theo UBND TP HCM