Showing posts with label tiền tệ. Show all posts
Showing posts with label tiền tệ. Show all posts

Wednesday, 14 April 2010

Vàng đứng giá, đôla Mỹ xuống dưới 19.000 đồng

Lần đầu tiên trong vòng nhiều tháng, niêm yết mua đôla Mỹ trên thị trường chợ đen lùi sâu dưới mức 19.000 đồng. Trong khi đó, giá bán vàng vẫn giữ nguyên ở quanh 26,49 triệu đồng từ chiều qua.

Thương hiệu vàng SJC tại TP HCM hiện được mua và bán ở 26,43 - 26,49 triệu đồng. Tuy đắt hơn sáng qua 40.000 đồng nhưng giá nay vẫn đứng yên so với chiều 14/4. Tại Hà Nội, các doanh nghiệp bán vàng SJC cao hơn 20.000 đồng nhưng vẫn mua ở 26,43 triệu đồng một lượng.

Nhiều thương hiệu vàng ở Hà Nội vẫn giữ nguyên mức niêm yết từ chiều qua đến nay, sau khi điều chỉnh tăng khoảng 30.000 đến 40.000 đồng so với sáng 14/4. Vàng SBJ của công ty vàng bạc đá quý Sacombank SBJ được niêm yết đầu ngày ở 26,44 - 26,48 triệu đồng một lượng. So với sáng qua, giá nay nhích nhẹ 20.000 đồng.

Trong khi đó, đôla Mỹ trên thị trường chợ đen vẫn trên đà giảm dần đều. Sau khi niêm yết ở mức 19.030 - 19.060 (mua - bán) hôm thứ ba, sáng nay giá bán USD chợ đen chỉ còn 19.020 đồng. Cùng lúc đó, lần đầu tiên kể từ tháng 11 năm ngoái, các điểm thu đổi ngoại tệ đưa niêm yết mua USD xuống dưới 19.000 đồng, chỉ còn 18.980 đồng một USD. Đây là lần đầu tiên giá mua đôla Mỹ trên thị trường tự do xuống dưới 19.000 đồng, sau khi có diễn biến leo thang hồi tháng 11 năm ngoái.

đôla Mỹ
Các ngân hàng thương mại bán đôla Mỹ với giá chỉ từ 19.000 đến 19.020 đồng trong sáng nay. Ảnh: Hoàng Hà

Giá USD của các ngân hàng thương mại cũng có mức giảm khá mạnh. Ngân hàng Vietcombank hiện niêm yết mua bán đôla Mỹ ở 18.970 - 19.020 đồng, hạ 40 đồng so với hôm 13/4. Eximbank còn để giá thấp hơn, mua bán tại 18.950 - 19.010 đồng một USD tính đến 8h57 sáng nay. Tại ngân hàng ACB, giá bán mỗi USD chỉ còn 19.000 đồng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay leo từ mức 1.153 USD lên có lúc vượt 1.160 USD một ounce trong phiên giao dịch hôm qua. Đến phiên châu Á sáng nay, mỗi ounce vàng tiếp tục tăng 2,2 USD so với mở cửa, đạt 1.157 USD tính đến 8h48 theo giờ Hà Nội. Hôm thứ 2, có lúc thị trường đạt đỉnh cao nhất kể từ 4/12 năm ngoái ở 1.168,70 USD.

Đôla Mỹ vẫn trong thế phòng ngự trong sáng thứ 5 khi các loại tiền khác như đôla Australia tiếp đà tăng trong khả năng Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ. Viễn cảnh này có thể tiếp sức cho đà tăng trên thị trường vàng do khi nhân dân tệ tăng giá, vàng sẽ trở nên rẻ hơn đối với những người sở hữu đồng tiền này. Bên cạnh đó, khi Trung Quốc chịu tăng giá đồng nội tệ là lúc họ đã nhìn thấy nguy cơ lạm phát.

Hôm nay, nhà đầu tư đang chờ thông tin GDP quý 1 và chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 của Trung Quốc để đánh giá tình hình kinh tế nước này. Cũng trong ngày, Mỹ sẽ công bố báo cáo số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần.


(Theo Vnexpress)

Saturday, 19 December 2009

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng… đứng yên

Xem hình

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố đứng yên ở mốc 17.941 VND trong hơn một tuần qua. Cụ thể, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của VND với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục duy trì ở mức 17.941 VND kể từ ngày 10/12 đến nay.

Đây là khác biệt hiếm thấy của tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong những năm gần đây, có từ sau quyết định điều chỉnh biên độ từ +/-5% xuống +/-3% và tăng trực tiếp thêm 5% (từ 17.034 VND lên 17.961 VND) vào ngày 26/11 vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. So với mức 17.961 VND của ngày 26/11, tỷ giá này đã giảm 20 VND. Tính chung từ đầu năm, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tăng 5,7%.

Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại theo niêm yết cũng đứng yên trong thời gian trên. Giá USD bán ra giữ ở mức 1 USD = 18.479 VND, kịch trần biên độ cho phép. Đáng chú ý là sau điều chỉnh từ ngày 26/11/2009, giá USD mua vào và bán ra của các ngân hàng thương mại cũng đã có chênh lệch trong khoảng 4 – 5 VND, thay cho các mức ngang nhau kéo dài trước đó.

Cũng trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước có thông tư bổ sung thêm 2 đối tượng nhu cầu được vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng. Theo đó, các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được phép vay ngoại tệ; trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, thì khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay.

Liên quan đến nguồn cung ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết đã thiết kế cơ chế mua bán ngoại tệ với các tập đoàn và tổng công ty theo hướng sử dụng được lượng ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu chi ngoại tệ của các doanh nghiệp nằm trong danh sách này.

Theo số liệu tổng hợp từ hệ thống báo cáo của các tổ chức tín dụng, tính đến ngày 30/11/2009, số dư tiền gửi có kỳ hạn của 7 tập đoàn, tổng công ty lớn vào khoảng 1,2 tỷ USD và số dư tiền gửi không kỳ hạn là khoảng 700 triệu USD.

Ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước), cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ cùng với Văn phòng Chính phủ họp và trao đổi thêm, thống nhất với các tập đoàn, tổng công ty này về phương án mua bán ngoại tệ cụ thể.

Ngoài ra, ông Huy cho biết thêm, các doanh nghiệp vẫn đang bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại với mức bình quân trong năm, nhưng do thời điểm cuối năm nên nhu cầu thanh toán nhập khẩu và trả nợ vay bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp là khá lớn.

Thursday, 17 December 2009

Doanh nghiệp xuất khẩu được vay ngoại tệ

Thông tư mới đã bổ sung thêm nhu cầu được vay ngoại tệ là để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu.

Ngân hàng Nhà nước, ngày 15-12 đã ban hành thông tư bổ sung quy định về việc cho vay ngoại tệ. Theo đó, các doanh nghiệp xuất khẩu sau một thời gian không được phép vay đô la Mỹ để nhập hàng, đến nay đã được phép vay trở lại.

Thông tư mới đã bổ sung thêm nhu cầu được vay ngoại tệ là để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, thì khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng đã cho vay.

Điều này có nghĩa nếu các doanh nghiệp muốn vay vốn bằng đô la Mỹ vì lãi suất thấp hơn lãi suất vay tiền đồng (lãi suất vay ngoại tệ khoảng 7%/năm) thì phải bán lại cho ngân hàng để lấy tiền đồng phục vụ các mục đích kinh doanh của mình. Đối với các nhu cầu vốn ngoại tệ ngoài quy định phải được sự chấp nhận trước bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Việc bổ sung nhu cầu được vay đô la Mỹ lần này, theo Ngân hàng Nhà nước công bố trên website của mình là nhằm góp phần cân đối cung cầu ngoại tệ trên thị trường, hài hòa lợi ích giữa bên vay và cho vay, phù hợp với chủ trương của Chính phủ về ổn định thị trường ngoại hối.

Trước đó, tháng 4-2008, Ngân hàng Nhà nước đã ra thông tư quy định chỉ có các doanh nghiệp nhập khẩu có nhu cầu mua hàng và thanh toán với nước ngoài mới được phép vay đô la Mỹ tại các ngân hàng để tránh tình trạng đô la hóa. Gần đây có nhiều ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước nên mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ là doanh nghiệp xuất khẩu để giảm bớt nhu cầu mua đô la từ các ngân hàng cũng như họ sẽ bán lại đô la khi có nguồn thu cho ngân hàng.

Phó tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần cho biết trước giờ các ngân hàng đã cho doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ thông qua hình thức cho vay tiền đồng với lãi suất đô la Mỹ. Thực tế là ngân hàng lấy một lượng đô la tương đương với khối lượng khách hàng muốn vay đem đi bán lấy tiền đồng cho khách hàng vay. Nay có thông tư mới thì cũng chỉ là hợp thức hóa việc cho ngoại tệ này. Vì thế, theo vị này, việc này cũng sẽ không làm cải thiện đáng kể tình trạng khan hiếm đô la tại các ngân hàng.

(Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)

Monday, 14 December 2009

Một cách nhìn khác về sự đi xuống của USD

Sự đa dạng hóa dự trữ ngoại hối làm giảm bớt nhu cầu đối với USD, tạo áp lực mất giá đối với đồng tiền này - Ảnh: AP.

Vai trò của đồng USD đã dịch chuyển từ chỗ gần như là đồng tiền dự trữ duy nhất của nhiều nước thành đồng tiền đầu tư hàng đầu
Trong bài viết tựa đề “The dollar’s fall reflects a new role for reserves” (tạm dịch: “Sự mất giá của USD phản ánh một vai trò mới của dự trữ ngoại hối”) đăng trên tờ Financial Times, tác giả Martin Feldstein, giáo sư kinh tế học thuộc Đại học Havard, Mỹ, đã đưa ra một cách nhìn mới về sự đi xuống của đồng “bạc xanh” thời gian qua.

Giáo sư Feldstein cho hay, ông thường được hỏi rằng, liệu việc USD mất giá có là một biểu hiện cho thấy vai trò đồng tiền dự trữ của “bạc xanh” đang giảm sút. Câu trả lời ngắn gọn của giáo sư cho câu hỏi này là, hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều không còn giữ USD hay bất kỳ một đồng tiền nào khác với tư cách là dự trữ kiểu truyền thống nữa. Ông cho rằng, vai trò của số dư dự trữ ngoại hối đã chuyển từ chỗ là các quỹ ngắn hạn dùng để bù đắp cho thâm hụt thương mại thành những quỹ đầu tư dài hạn.

Theo giáo sư Feldstein, trong thế giới ngày nay, vai trò của USD đã dịch chuyển từ chỗ gần như là đồng tiền dự trữ duy nhất của nhiều nước thành đồng tiền đầu tư hàng đầu, và vai trò này sẽ còn tiếp tục được duy trì trong tương lai.

Việc nhìn lại những gì đã diễn ra trong lịch sử sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự thay đổi này. Trong nhiều thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, gần như mọi quốc gia đều neo buộc tỷ giá hối đoái đồng nội tệ vào USD. Rất nhiều lần, vì những lý do như sự khác biệt giữa tỷ lệ lạm phát và thay đổi trong ưu đãi thương mại đã khiến các nước phải điều chỉnh mức tỷ giá neo buộc này.

Trong chế độ tỷ giá neo buộc có thể điều chỉnh như vậy, các nước thực hiện việc kiểm soát tổng cầu để giữ kim ngạch nhập khẩu ở mức xấp xỉ ngang bằng với kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, trong những thời kỳ ngắn khi nhập khẩu vượt xuất khẩu, các quốc gia sẽ cần tới một kho dự trữ bằng USD hoặc một đồng tiền mạnh khác để bù đắp cho phần thâm hụt. Trong số các đồng tiền mạnh, USD là đồng tiền có tính thanh khoản cao nhất nên được chọn là đồng tiền dự trữ hàng đầu.

Về sau, hệ thống này đã thể hiện nhiều điểm bất cập. Các quốc gia vì thế đã chuyển sang áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi, trong đó về nguyên tắc, thị trường tiền tệ quốc tế được phép quyết định tỷ giá hối đoái. Về mặt lý thuyết, với chế độ tỷ giá thả nổi, các quốc gia không cần tới dự trữ ngoại hối, vì sự biến động tỷ giá sẽ giúp cân bằng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu.

Tuy nhiên, trên thực tế, độ trễ trong cơ chế điều chỉnh như vậy đồng nghĩa với việc các nước vẫn cần tới dự trữ ngoại hối để cân bằng thâm hụt thương mại tạm thời. Ngoài ra, các dòng vốn đầu tư chảy vào hoặc chảy ra cũng bổ sung thêm cho nguồn cung ngoại hối của một nước hoặc làm gia tăng nhu cầu ngoại hối của nước đó. Bởi vậy, phần lớn các chính phủ phải dùng tới dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ngăn chặn những biến động lớn trong giá trị đồng nội tệ.

Do đó, với chính sách tỷ giá thả nổi, chính phủ và ngân hàng trung ương khi đó vẫn cần tới dự trữ ngoại hối để giúp cơ chế tỷ giá thả nổi vận hành trơn tru, đồng thời bù đắp cho những thâm hụt thương mại tạm thời.

Những gì đã xảy ra vào cuối những năm 1990 đã dẫn tới thay đổi căn bản trong vai trò của dự trữ ngoại hối. Vào năm 1997, Chính phủ Thái Lan nỗ lực tìm cách giữ đồng Bhat của nước này ở mức tỷ giá cao hơn so với giá trị thực. Khi dự trữ ngoại hối của Thái Lan không còn đủ sức chịu được, Chính phủ nước này buộc phải phá giá đồng Baht, đem tới những khoản lợi nhuận khổng lồ cho những ai trước đó đã vay Baht và mua USD.

Giới đầu cơ tiền tệ sau đó đã tấn công vào các đồng tiền khác ở châu Á. Thậm chí cả những đồng tiền về cơ bản không bị định giá cao cũng có thể bị tấn công nếu giới đầu cơ vay đồng tiền đó và bán ra ồ ạt, buộc chính phủ rút cạn kho dự trữ ngoại hối để can thiệp, rồi rốt cục phải tuyên bố phá giá.

Thực tế này đem tới cho các chính phủ hai bài học. Thứ nhất, duy trì mức tỷ giá cao so với thực tế cho đồng nội tệ là một việc làm nguy hiểm. Thứ hai, trong trường hợp tỷ giá đồng nội tệ không bị giữ ở mức cao, thì một quốc gia vẫn có thể thất thủ trước sự tấn công của giới đầu cơ tiền tệ nếu quốc gia đó không có đủ dự trữ ngoại hối.

Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, các quốc gia đã “thuộc lòng” các bài học trên. Họ cố gắng giữ tỷ giá đồng nội tệ ở mức thấp hơn so với giá trị thực nhằm tạo thặng dư thương mại và sử dụng thặng dư này để tích lũy dự trữ ngoại hối. Hiện nay, Hàn Quốc đã có kho dự trữ ngoại hối 200 tỷ USD, Đài Loan có 300 tỷ USD, Thái Lan có 100 tỷ USD, và Trung Quốc có hơn 2.000 tỷ USD.

Tuy nhiên, những kho dự trữ ngoại hối này hiện nay đã không còn được sử dụng với chức năng bù đắp cho thâm hụt thương mại hay đầu tư ngắn hạn nữa. Theo cách hợp lý nhất, dự trữ này có thể được nhìn nhận vừa là những quỹ đầu tư, vừa là những vũ khí chống lại sự tấn công của giới đầu tư tiền tệ. Tương tự, các quốc gia xuất khẩu dầu thô đang biến nguồn tài nguyên dầu lửa của họ thành những tài sản tài chính giúp đem lại lợi nhuận cho các thế hệ tương lai.

Các nước châu Á và các quốc gia sản xuất dầu nhận thức được bản chất đầu tư trong việc tích lũy dự trữ ngoại hối của họ. Thay vì chỉ mua vào trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn ngắn, các nước này đã thành lập những quỹ đầu tư lợi ích quốc gia với những chiến lược đầu tư phức tạp.

Sẽ là một việc làm khôn ngoan nếu một quốc gia nào đó với số dư dự trữ ngoại hối lớn biết đa dạng hóa dự trữ này. Bởi thế, người ta không ngạc nhiên khi thấy các nước như Trung Quốc và Hàn Quốc đang giảm bớt việc dự trữ USD, và thay thế vào đó là các đồng tiền khác, nhất là đồng Euro.

Sự đa dạng hóa dự trữ ngoại hối như vậy làm giảm bớt nhu cầu đối với USD, tạo áp lực mất giá đối với đồng tiền này. Thị trường nên xem đây là một kết quả tự nhiên từ sự “tiến hóa” của dự trữ ngoại hối từ chỗ là các dự trữ thanh khoản khẩn cấp bằng USD thành những danh mục đầu tư dài hạn có sự tham gia của nhiều đồng tiền. Tuy nhiên, dù các quốc gia có giảm sự phụ thuộc vào USD, thì đồng tiền này vẫn sẽ tiếp tục là đồng tiền chính trong đầu tư thanh toán của các nước trên thế giới.

Khi quá trình tái cân bằng danh mục đầu tư này kết thúc, thì nhu cầu đối với đồng USD cũng sẽ ngừng giảm. Tới khi đó, sự suy giảm giá trị của USD trong suốt quá trình tái cân bằng danh mục trên sẽ giúp làm giảm thâm hụt thương mại của nước Mỹ, theo đó làm giảm nguồn cung USD hàng năm.

Nhu cầu USD thôi giảm, cộng thêm nguồn cung giảm bớt, có thể chấm dứt sự mất giá của đồng “bạc xanh”. Bởi thế, những gì mà nhiều người đang xem như một cuộc khủng hoảng niềm tin vào USD với tư cách là đồng tiền dự trữ hàng đầu, trên thực tế chỉ là một phần của quá trình phát triển tiến tới hãm phanh sự mất giá của đồng tiền này.
Theo Vneconomy

Thursday, 10 December 2009

Xóa bỏ “bình ngưng ngoại tệ”

Nếu điều chỉnh Quyết định 09 cho phép doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ sẽ đem lại lợi ích không chỉ cho doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng mà còn giảm áp lực lên mặt bằng tỷ giá - Ảnh: Reuters.

Lãi suất ngoại tệ ở mức thấp mà thì tỷ giá lại cứ “dập dình” trong xu hướng tăng thì nhiều mà giảm thì ít
Sau những động thái của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ gần đây, thị trường tỷ giá dần ổn định trở lại. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, để căn cơ hơn, Ngân hàng Nhà nước nên xóa bỏ bất cập tại “Quyết định 09”.

Trên thị trường ngoại tệ hiện nay, đang tồn tại một đặc điểm đáng lưu ý: trong khi lãi suất ngoại tệ ở mức thấp (chỉ 2% - 3%/năm) thì tỷ giá lại cứ “dập dình” thất thường nhưng trong xu hướng tăng thì nhiều mà giảm thì ít.

Bất lực với “bình ngưng ngoại tệ”?

Sở dĩ như vậy là bởi, cơ cấu ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng thương mại gồm có nguồn huy động và nguồn mua, hay còn gọi là nguồn ngoại tệ kinh doanh. Trong khi nguồn huy động dư thừa hàng tỷ USD từ đầu 2009 đến nay (theo kiến nghị sửa đổi Quyết định 09/2008/QĐ - NHNN của một ngân hàng thương mại nhà nước mới đây) kéo tụt lãi suất xuống thấp thì nguồn ngoại tệ kinh doanh lại khan hiếm, dẫn tới hiện tượng “bình ngưng ngoại tệ” vẫn chưa được giải quyết.

Gần đây Ngân hàng Nhà nước tung ra các biện pháp khá quyết liệt như nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng kèm theo điều chỉnh biên độ giao dịch từ +/- 5% xuống +/- 3%; tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo doanh nghiệp nhà nước ngành dầu khí và than bán lại ngoại tệ với một tỷ lệ thích hợp cho ngân hàng thương mại. Sau những động thái đó, thị trường tỷ giá đã ổn định trở lại nhưng đó có phải giải pháp căn cơ hay không thì lại là chuyện khác.

Thứ nhất, đối với việc chỉ đạo bán lại ngoại tệ cho ngân hàng từ các doanh nghiệp nói trên, bà Phan Thị Chinh, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết: “Số lượng ngoại tệ mà các đơn vị nói trên bán cho BIDV chẳng đáng là bao!”

Liên quan đến vấn đề này, hỏi lãnh đạo một ngân hàng thương mại khác, ông này thừa nhận: “Có thay đổi gì mấy đâu!”. Theo ông, vấn đề là phải tạo ra cung (nguồn ngoại tệ kinh doanh chứ không phải nguồn huy động - PV) bởi nhu cầu đối với nguồn này rất lớn.

Lâu nay, để có được nguồn này, ngân hàng thương mại chỉ dựa vào việc mua lại từ kiều hối và mua lại từ hoạt động xuất khẩu nhưng trong bối cảnh sự ổn định tỷ giá chưa thực sự bền vững thì rất khó tránh khỏi hiện tượng găm giữ.

Thứ hai là bất cập tại “Quyết định 09”. Ngày 10/4/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành “Quyết định 09”, trong đó quy định tổ chức tín dụng chỉ được cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp nhập khẩu và thanh toán nợ đến đến hạn, đồng thời không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

Theo bà Chinh, trong điều kiện thị trường ngoại tệ hoạt động bình thường thì việc quy định như vậy sẽ đưa dòng vốn ngoại tệ “đi đúng nơi, về đúng chốn”, góp phần tạo thêm nhiều hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong khi thị trường ngoại tệ vẫn còn bất ổn thì chính quy định này lại là một bất cập cần sửa đổi theo hướng ngược lại.

Chính sách cần mạnh tay hơn

Để hạn chế việc găm giữ ngoại tệ, một số ý kiến cho rằng cần quay về với giải pháp kết hối. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, mặc dù kết hối không vi phạm các cam kết WTO và được phép hành động theo Pháp lệnh ngoại hối nhưng để thực hiện được vấn đề này, phải giải quyết hàng loạt thách thức: chấp nhận rủi ro tỷ giá, đảm bảo quyền lợi cho phía bị kết hối, chưa kể năng lực dự trữ ngoại hối của quốc gia cũng là yếu tố phải tính kỹ.

Tuy nhiên, trong khi kết hối “chưa thông”, chủ trương “doanh nghiệp nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng” mới chỉ dừng ở hô hào thì có một cách khác, góp phần giải tỏa “bình ngưng ngoại tệ” đó là sửa đổi “Quyết định 09”, cho phép cho vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu lại chưa được Ngân hàng Nhà nước tính đến.

Bà Chinh phân tích: xét về nguyên tắc đơn thuần thì doanh nghiệp xuất khẩu luôn có nguồn ngoại tệ và chỉ nên vay VND để thu mua hàng hóa sản xuất trong nước phục vụ cho xuất khẩu.

Nhờ đó, ngân hàng thương mại có thêm lượng ngoại tệ dành cho doanh nghiệp nhập khẩu mua hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất kinh doanh, thanh toán các khoản nợ đến hạn. Như vậy, quy định không cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu là cần thiết và phù hợp.

Tuy nhiên, nếu điều chỉnh Quyết định 09 cho phép doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ sẽ đem lại lợi ích không chỉ cho doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng mà còn giảm áp lực lên mặt bằng tỷ giá.

Chẳng hạn: ngân hàng thương mại lấy nguồn huy động cho vay doanh nghiệp xuất khẩu 10 triệu USD nhưng vì doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu VND để thu mua hàng hóa trong nước nên bên vay sẽ bán lại lượng USD nói trên cho ngân hàng để nhận lại VND bằng một hợp đồng kinh tế đơn giản, dễ thực hiện bởi doanh nghiệp xuất khẩu rất sẵn ngoại tệ.

Làm như vậy, từ chỗ nguồn ngoại tệ là huy động đã trở thành nguồn ngoại tệ kinh doanh. Sự khác biệt này mang lại lợi ích đối với ngân hàng thương mại là có thêm nguồn phục vụ nhu cầu mua thiết yếu, Ngân hàng Nhà nước đỡ phải can thiệp hỗ trợ cho ngân hàng thương mại, do đó, áp lực tỷ giá sẽ giảm đi đáng kể.

Mặt khác, chính sách này cũng “né” được nguyên tắc khắt khe “vốn huy động ngoại tệ không được bán” để phòng tránh rủi ro thiếu khả năng chi trả cho phía gửi của Ngân hàng Nhà nước một cách hợp lý.

Vậy còn doanh nghiệp được lợi gì? Hiện tại, lãi suất ngoại tệ khá thấp (2% - 3%/năm), đặc biệt, nếu đàm phán với ngân hàng vay với lãi suất Libor (lãi suất liên ngân hàng London) hoặc lãi suất Sibor (lãi suất liên ngân hàng Singapore) còn thấp hơn.

Và khi bán lại cho ngân hàng, doanh nghiệp sẽ được hưởng mức tỷ giá tốt nhất trong thời điểm hiện nay. Hơn nữa, khi nhận ngoại tệ từ xuất khẩu, doanh nghiệp cũng phòng chống được “rủi ro tỷ giá” trong trường hợp tỷ giá xuống mức thấp hơn thời điểm họ vay rồi bán lại cho ngân hàng.

Như vậy, cùng với các nguồn ngoại tệ mua từ Ngân hàng Nhà nước và các nguồn khác, cộng với nguồn mua nhờ sửa đổi Quyết định 09, sẽ tăng thêm lượng ngoại tệ mà các ngân hàng thương mại được sở hữu để bán lại cho các nhu cầu thiết yếu, góp phần lớn vào việc xóa bỏ “bình ngưng ngoại tệ” và bình ổn thị trường.

Monday, 7 December 2009

Mạnh tay với giao dịch ở thị trường "chợ đen"

Sau một loạt những biện pháp bình ổn thị trường được nhận định mang lại nhiều hiệu quả, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây tiếp tục mạnh tay với các hoạt động bất hợp pháp của thị trường chợ đen. Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối NHNN - ông Nguyễn Quang Huy trao đổi với phóng viên quanh nội dung này.

Việc mua bán đôla Mỹ ngoài thị trường chợ đen là vi phạm quy định của pháp luật.

Thị trường ngoại hối hiện diễn ra sao, sau hàng loạt các biện pháp bình ổn của NHNN được đánh giá là rất đồng bộ trong thời gian qua, thưa ông?

- Với các biện pháp được ban hành, thị trường ngoại hối được cải thiện đáng kể, thanh khoản trên thị trường được tăng lên và nhiều DN đã bán ngoại tệ cho các NH. Tỉ giá mua bán ngoại tệ giữa các NHTM, giữa các NHTM với DN đều nằm trong biên độ quy định.

Quyết định điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH và biên độ tỉ giá phù hợp với điều kiện thị trường và trong mối tương quan với lãi suất VND được đưa ra nhằm tạo lập một mức cân bằng mới về cung cầu ngoại tệ. Còn việc NHNN bán can thiệp với quy mô lớn cho tất cả các TCTD có trạng thái ngoại tệ âm 5% trở xuống là nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trên thị trường, nhanh chóng ổn định thị trường sau khi tỉ giá USD/VND được điều chỉnh.

Vậy ông lý giải hiện tượng một số DN vẫn mua bán USD vượt mức trần do NHNN quy định trong thời gian qua ra sao?

- Căng thẳng về cung cầu ngoại tệ trên thị trường mà đặc biệt do hiện tượng găm giữ ngoại tệ khiến nhiều DN khó tiếp cận ngoại tệ, dẫn đến hiện tượng mua bán ngoại tệ vượt trần quy định. Khắc phục tình trạng này, ngoài việc bán can thiệp ngoại tệ các TCTD nhằm tăng cung ngoại tệ, NHNN cũng yêu cầu các TCTD được phép hoạt động ngoại hối phải thực hiện nghiêm các quy định về biên độ tỉ giá khi mua bán ngoại tệ.

Mọi DN và người dân khi có nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh lành mạnh, học tập, công tác hay chữa bệnh ở nước ngoài đều có thể mua ngoại tệ tại các NHTM với tỉ giá trong biên độ quy định.

Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối NHNN - ông Nguyễn Quang Huy

Dẫu vậy theo ghi nhận, tỉ giá USD/VND trên thị trường chợ đen hiện vẫn đang ở mức khá cao?

- Phải thừa nhận lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường chợ đen có quy mô tương đối nhỏ so với thị trường chính thức, song lại có tác động lớn đến tâm lý trên thị trường do các yếu tố đầu cơ. NHNN khẳng định, việc mua bán đôla Mỹ ngoài thị trường chợ đen là vi phạm quy định của pháp luật và đã ra quyết định chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống thu đổi ngoại tệ. Chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện xử lý triệt để các vi phạm về mua bán ngoại tệ trên thị trường chợ đen một cách thường xuyên và kiên quyết.

Theo nhận định của ông, thị trường khi nào sẽ thực sự ổn định?

- Cá nhân tôi cho rằng, với các biện pháp trên đây, thị trường ngoại hối sẽ sớm ổn định. Cùng với các biện pháp của NHNN, Bộ Công Thương cũng đang thực hiện các biện pháp đồng bộ để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập siêu. Trong khi đó, Bộ Tài chính chấm dứt các biện pháp hỗ trợ về thuế, cũng như nâng mức thuế đối với các mặt hàng xa xỉ. Cùng với việc quản lý tốt thị trường chợ đen, tôi tin rằng mục tiêu trên sẽ đạt được, giúp thị trường ngoại hối ổn định bền vững.

Xin cảm ơn ông!

Nắm giữ VND mang lại lợi ích cao hơn

Về hiện tượng người dân và DN đang nắm giữ những tài sản như USD hoặc VND với nhiều mục đích khác nhau, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng, nếu đầu tư, tài sản an toàn và hiệu quả nhất trong bối cảnh hiện nay là tiết kiệm VND. Vì nếu so sánh giữa lãi suất huy động tiền đồng và dự báo lạm phát của năm 2010 là dưới 7%, việc nắm giữ VND sẽ mang lại lợi ích cao hơn so với USD.

Liên quan đến đầu tư vàng, ông Nguyễn Quang Huy đưa ý kiến, đây là một trong những tài sản rất rủi ro và nhà đầu tư cần cân nhắc thận trọng khi quyết định mua bán và nắm giữ trong thời gian tới. Giá vàng trong nước gần đây diễn biến khá sát với giá vàng quốc tế nhưng giá vàng quốc tế có những biến động khó lường, mang tính đầu cơ cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì có những thời điểm chỉ trong vòng một ngày giá vàng biến động trên 50USD/ounce.

Hà Phương


Giá vàng sẽ tiếp tục giai đoạn điều chỉnh?

Giá vàng tại các cửa hàng trong ngày cuối tuần đã giảm xuống 28,00- 28,20 triệu đồng/lượng, giảm mất 650.000đ/lượng so với đỉnh 28,85 triệu đồng/lượng đã lập hồi giữa tuần. Giá công bố trên mạng của Cty SJC là 28,00- 28,15 triệu đồng/lượng và của SBJ- Sacombank là 28,05- 28,25 triệu đồng/lượng.

Theo thông tin từ các cửa hàng khu vực chợ Bến Thành, trong những ngày nghỉ giao dịch không sôi động lắm, tuy nhiên khối lượng bán lẻ cũng tăng lên. Một số NĐT nhỏ tranh thủ mua vào với kỳ vọng sang vài ngày tới giá sẽ tăng trở lại. Riêng nữ trang tiêu thụ mạnh do các đôi sắp cưới tranh thủ mua sắm trong lúc vàng hạ giá. Người mua chủ yếu là lựa chọn các món nữ trang nhỏ, do trong thời gian qua vàng lên quá nhanh trong điều kiện kinh tế khó khăn.

So với giá vàng trong nước, giá thế giới có bước điều chỉnh mạnh hơn. Trong phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng trên thị trường New York đã có đợt giảm điểm sâu nhất kể từ đầu tháng 11 đến nay. Sau khi lập kỷ lục 1.226USD/ounce, vàng đã nhanh chóng đi xuống và đóng cửa ở mức 1.160,9USD/ounce, tức là giảm khoảng 65USD/ounce chỉ trong vòng 2 ngày.

Đồng USD mạnh lên sau khi Mỹ công bố thông tin khả quan về thị trường lao động. Cặp tỉ giá EUR/USD từ trên 1,51 giảm xuống dưới 1,49. Các NĐT trước đó mua vào quá mức, nay ồ ạt bán ra khiến cho vàng càng giảm giá nhanh hơn. Theo các nhà phân tích, phiên giao dịch đầu tuầu này có khả năng giá vàng sẽ còn tiếp tục điều chỉnh trong khi chờ thông tin mới, nhưng sẽ không giảm sâu.

T.Phương

Nguồn: Văn Nguyễn - Lao Động

Sunday, 6 December 2009

Tiền tệ “lắc”, chứng khoán “rụng”

Thời gian gần đây, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các thông tin có liên quan đến thị trường tiền tệ.

Sự thay đổi của chính sách tiền tệ luôn gây tác động lớn đến chứng khoán. Trong ảnh: khách hàng đến giao dịch tại Ngân hàng Á Châu (ACB) - Ảnh: Thanh Đạm

Sự nhạy cảm quá mức cũng là mảnh đất màu mỡ cho những tin đồn liên quan đến chính sách tiền tệ với dụng ý xấu nhằm trục lợi.

Từ tin đồn

Sau ba phiên tăng điểm với sự dẫn dắt của các cổ phiếu ngân hàng, nhà đầu tư đã kỳ vọng trở lại về một kịch bản tích cực của thị trường trong tháng cuối cùng của năm 2009. Thế nhưng, từ phiên giao dịch ngày 2-12, chứng khoán đã quay đầu giảm khá mạnh. Thủ phạm, theo ghi nhận từ giới đầu tư, là từ tin đồn Ngân hàng Nhà nước sẽ siết chặt tín dụng.

Tin đồn với nội dung Ngân hàng Nhà nước buộc các ngân hàng phải mua tín phiếu bắt buộc và tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Lần này Ngân hàng Nhà nước đã phản ứng khá nhanh, ngay lập tức bác bỏ tin đồn. Thế nhưng theo anh Huỳnh Thanh Đ. - nhà đầu tư tại sàn ACBS, dù nhiều người nghi ngờ tin đồn vì nền kinh tế đang cần vốn để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, nhưng không ít người đã bán cổ phiếu với phương châm “an toàn là trên hết”.

Trước đó, ngày 25-11, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng lãi suất cơ bản và điều chỉnh chính sách tỉ giá, VN - Index cũng đã mất gần 45 điểm chỉ trong hai phiên giao dịch. Khi bình tâm trở lại, nhiều nhà đầu tư nhận ra đây là thông tin hỗ trợ tích cực hơn là tiêu cực. Khi đó, chứng khoán mới tăng lại, nhà đầu tư mạnh tay mua cổ phiếu ngân hàng.

Thị trường chứng khoán giảm sâu từ tháng 10-2009 đến nay một phần cũng do nhà đầu tư quá nhạy cảm với các thông tin có liên quan chính sách tiền tệ. Nhiều nhà đầu tư đã chọn giải pháp đứng ngoài quan sát.

Vì sao?

“Các chính sách tiền tệ có ảnh hưởng bao trùm lên nền kinh tế nói chung và túi tiền của từng người dân nói riêng. Thị trường chứng khoán được xem là hàn thử biểu của nền kinh tế nên những thay đổi của chính sách tiền tệ, dù lớn hay nhỏ, đều tác động đến chứng khoán” - TS Lê Thẩm Dương (ĐH Ngân hàng) nói. Do vậy, sự phản ứng của nhà đầu tư đối với các thay đổi về chính sách tiền tệ cũng là hợp lý.

Ở phạm vi hẹp hơn, theo các chuyên gia chứng khoán, các ngân hàng, doanh nghiệp ngành bất động sản… chịu tác động trực tiếp của chính sách tiền tệ, trong khi cổ phiếu của các doanh nghiệp này chiếm tỉ trọng lớn trên thị trường chứng khoán và được xem là một trong những đối tượng dẫn dắt thị trường.

Tuy nhiên theo các chuyên gia, những tác động của chính sách tiền tệ luôn có tác động hai mặt đối với nền kinh tế, có thể tích cực vào thời điểm hiện tại nhưng tiềm ẩn một số yếu tố tiêu cực trong tương lai và ngược lại. Chẳng hạn, động thái nới lỏng tín dụng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ lạm phát nếu không có các biện pháp kiềm chế nguy cơ này.

Ở chiều ngược lại, việc hạn chế tín dụng sẽ giúp ngăn ngừa lạm phát, có thể tạo những khó khăn cho doanh nghiệp nhưng mặt tích cực là giúp kinh tế vĩ mô giữ được ổn định. Mà sự ổn định của vĩ mô là nền tảng cho chứng khoán tăng trưởng bền vững. Do vậy, tác động tích cực hay tiêu cực của các chính sách tiền tệ đối với chứng khoán còn tùy thuộc quan điểm đầu tư dài hạn hay ngắn hạn của nhà đầu tư.

HOÀI GIANG

Còn nhiều tin gây rối cho nhà đầu tư

Nhiều nhà đầu tư kiến nghị các cơ quan chức năng, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán nhà nước, cần phản ứng kịp thời để bác bỏ tin đồn thất thiệt cũng như cần thông tin tốt hơn về các chính sách vĩ mô giúp nhà đầu tư có đủ thông tin để không hoang mang trước tin đồn thất thiệt.

Hiện thị trường bị rối thông tin một phần do các thông tin tư vấn, bình luận từ các công ty chứng khoán. Không ít công ty chứng khoán do không có đủ thông tin hoặc đánh giá không đúng bản chất của việc điều chỉnh các chính sách tiền tệ, từ đó đưa ra những nhận định gây rối nơi nhà đầu tư.

Như với chính sách tín dụng, ông Nguyễn Phước Thanh - tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương VN - cho rằng không có siết mà chỉ là kiểm soát để đảm bảo mức tăng tín dụng phù hợp với tăng trưởng kinh tế.

T.SƠN

Nguồn: HOÀI GIANG - TUỔI TRẺ

Wednesday, 2 December 2009

Từ 3/12 chấm dứt bán USD vượt trần

Từ 3/12 chấm dứt bán USD vượt trần

Sáng 3/12, giá giao dịch vẫn ở mức 19.400 - 19.500 đồng/USD mua vào và bán ra.


Nhiều ngân hàng thương mại cho biết, bắt đầu từ hôm nay (3/12), sẽ chấm dứt tình trạng bán USD vượt quá trần quy định. Đây là nỗ lực của các ngân hàng cùng với cơ quan quản lý tiếp tục giảm khoảng cách chênh lệch giữa USD trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tự do.

Ngày 2/12, tại cuộc họp với các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cam kết có sự hỗ trợ mạnh mẽ trong việc bán ngoại tệ hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại (NHTM) kèm nhiều biện pháp hỗ trợ khác sẽ giúp ổn định thị trường ngoại tệ trong thời gian ngắn sắp tới.

8 ngân hàng là Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank, ACB, Techcombank, Eximbank và Sacombank hưởng ứng việc tham gia bình ổn thị trường ngoại tệ. Nhiều ngân hàng cho biết, bắt đầu từ hôm nay, 3/12, sẽ chấm dứt việc bán USD vượt giá trần.

Theo bà Phan Thị Chinh - Phó Tổng giám đốc BIDV, ngay chiều 2/12, BIDV và nhiều ngân hàng khác đã thực hiện việc điều chỉnh giá bán đúng theo trần quy định.

Cam kết của NHNN đã làm cho các ngân hàng yên tâm hơn khi thực hiện cơ chế hỗ trợ nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu, về ngoại tệ để thực hiện các khoản thanh toán công nợ. Nếu điều chỉnh tốt, thì khoảng cách chênh lệch 1.000 đồng của giá USD trong và ngoài ngân hàng sẽ giảm xuống.

Mặc dù NHNN đã điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng và biên độ giao dịch khiến tỷ giá tăng lên, nhưng các ngân hàng vẫn tìm cách để giao dịch với giá cao hơn quy định thông qua việc thu thêm phí hay mua bán thỏa thuận...

Mức giá thực mà các ngân hàng giao dịch gần đây thường ở khoảng 19.100 đồng thì đến sáng nay đã giảm xuống còn khoảng 18.600 đồng/USD.

Theo nhận định của chuyên gia từ Vietcombank, sau khi ổn định được giá giao dịch thực giữa các NHTM, nguồn cung USD đủ thì giá trên thị trường tự do sẽ tiếp tục là đối tượng điều chỉnh của cơ quan quản lý.

Với cách làm này, chỉ cần NHNN bơm thêm nguồn khoảng 2 tỷ thì thị trường sẽ ổn định. Việc này không khó khi các tập đoàn và tổng công ty lớn hiện đã sẵn sàng bán USD cho ngân hàng.

Bên cạnh việc tăng cung, các NHTM cũng đề nghị NHNN sửa một số điểm trong Quyết định 09/2008/QĐ – NHNN về cho vay vốn bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú, giúp hài hòa lợi ích của doanh nghiệp nắm giữ ngoại tệ, đồng thời thu hút thêm ngoại tệ vào hệ thống, giảm áp lực nhu cầu ngoại tệ một cách bất bình thường.

Như vậy, rất có thể sắp tới, NHNN sẽ điều chỉnh giảm mức dự trữ ngoại tệ từ 7% xuống 3 – 4% để các NHTM có đủ nguồn cung ứng cho thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường ngoại tệ sẽ không có đột biến trong thời gian tới.

Phản ứng trên thị trường tự do sau những động thái này chưa rõ nét. Sáng 3/12, giá giao dịch vẫn ở mức 19.400 - 19.500 đồng/USD mua vào và bán ra.

Theo Phước Hà
VietNamNet

"Tin đồn phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng là bịa đặt"

Dư luận trong Nam ngoài Bắc đang xôn xao với thông tin Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng và mạnh tay thắt chặt chính sách tiền tệ.

Thị trường tiền tệ rất nhạy cảm với các tin đồn. (Ảnh: Hoàng Hà)

Ngoài thông tin sẽ có thêm tiền mệnh giá lớn, giới đầu tư còn hoang mang khi nghe tin Chính phủ bắt các ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc với tỷ lệ lên tới 50% vốn điều lệ, cao gấp 5 lần mức yêu cầu đưa ra hồi khủng hoảng tiền tệ đầu năm 2008; đồng thời tăng tiếp lãi suất cơ bản và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng tiền đồng.

Những thông tin đồn thổi này rộ lên vào đầu giờ sáng nay khiến lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, và được xem là một phần nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán giảm sàncho dù đầu phiên vẫn không đến nỗi xấu.

Đích thân ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước nhận được những tin nhắn hỏi về thông tin tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tiền mệnh giá 1 triệu vào đầu giờ sáng nay. Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP HCM Trần Hoàng Ngân cũng nhận được tin tương tự và ông đã phải liên lạc với Ngân hàng Nhà nước để hỏi cho rõ ràng.

Trao đổi với báo giới chiều nay, ông Nguyễn Ngọc Bảo khẳng định hiện tại Ngân hàng Nhà nước chưa có chủ trương tăng lãi suất cơ bản sau khi đã tăng từ 7% lên 8% vào đầu tháng 12. Thông tin mua tín phiếu bắt buộc, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành tiền mệnh giá 1 triệu cũng là bịa đặt, hoàn toàn không có cơ sở. Hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng tiền đồng vẫn giữ mức 5% đối với tiền gửi dưới 12 tháng và 1% với tiền gửi trên 12 tháng. Mệnh giá tiền lớn nhất của Việt Nam hiện vẫn là 500.000 đồng, bắt đầu đi vào lưu thông năm 2003.

Cuối chiều qua, dư luận TP HCM còn có thông tin Việt Nam đổi tiền (thay thế bằng hệ thống tiền mới, có giá trị thanh toán mới). Khi được hỏi về tin đồn đổi tiền bên lề cuộc họp báo Chính phủ chiều 1/12, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến tỏ ra ngạc nhiên. Ông khẳng định, không có chuyện Việt Nam đổi tiền. "Đó hoàn toàn là tin đồn nhảm của những người có dụng ý xấu. Người dân nếu phát hiện những kẻ tung tin đồn này, hãy báo cho Ngân hàng Nhà nước để chúng tôi xử lý", ông Nguyễn Đồng Tiến nói.

Theo ông Trần Hoàng Ngân, đây không phải lần đầu tiên thị trường tài chính tiền tệ rộ lên những tin đồn thất thiệt và những tin đồn đó vẫn có đất sống là do nhà đầu tư Việt Nam nhẹ dạ, yếu tâm lý, dễ bị chấn động bởi những thông tin không chính xác. Tuy nhiên, ông Ngân khuyến cáo cơ quan quản lý cũng cần thận trọng khi cung cấp thông tin và phải trung thành với những thông tin mình cung cấp, để góp phần làm lành mạnh thị trường, tránh những thiệt hại không đáng có cho người dân.

Chuẩn bị cho thời kỳ suy yếu kéo dài của đồng USD

Có nhiều lý do mà người Mỹ dù không muốn nhưng sẽ vẫn phải chấp nhận đồng USD yếu.

Hai hậu quả lớn nhất của khủng hoảng tài chính gần đây là thâm hụt ngân sách, nợ của Mỹ tăng cao và sức mạnh kinh tế chuyển từ Tây sang Đông.

Có một cách duy nhất mà chính phủ các nước có thể làm để giải quyết ảnh hưởng của hai vấn đề trên: vận động và đưa ra thay đổi lớn trong quan hệ các đồng tiền, đặc biệt là vấn đề đồng USD yếu.

Ai cũng biết nguồn gốc của vấn đề. Thâm hụt ngân sách Mỹ trong năm tài khóa vừa qua đã lên mức tương đương 10% GDP – mức cao nhất tính từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Trong khi đó, nợ nước ngoài của Mỹ trong năm 2008 đã tăng gấp 3 lên mức 3.500 tỷ USD và dự kiến sẽ tăng 1.000 tỷ USD/năm trong 10 năm tới.

Tất cả những thông tin trên chưa nói hết về một nước Mỹ nơi cơ sở hạ tầng đang đi xuống và nhiều bang thiếu tiền. Để thu hẹp khoảng trống ngân sách, người ta cần tăng thuế lên mức rất cao và hạn chế mạnh chi tiêu. Một nước Mỹ với sự đối nghịch căng thẳng của các đảng phái và những quyền lợi riêng được đặt lên cao nếu thực hiện được 1 trong 2 mục tiêu trên đã là một điều kỳ diệu, chưa nói đến 2 mục tiêu.

Chính phủ Mỹ vì thế không còn nhiều lựa chọn ngoài việc in thêm đô la, hạ giá đồng tiền này và cung cấp dịch vụ với giá rẻ hơn.

Còn yếu tố khác buộc người Mỹ phải chấp nhận đồng USD yếu: nhu cầu tiêu dùng của người dân đang đi xuống khi tín dụng hạn chế sau thời kỳ tăng trưởng không hạn chế suốt 15 năm. Nước Mỹ đang tuyệt vọng tìm kiếm thị trường nước ngoài để xuất hàng hóa, đó có thể là thị trường những nước mới nổi nơi tầng lớp trung lưu đang giàu lên và cơ sở hạ tầng cần nhiều thay đổi mới. Đồng USD yếu có thể giúp hàng hóa và dịch vụ của Mỹ có thêm khả năng cạnh tranh.

Trong khi đó, thập kỷ tới, những nền kinh tế lớn của châu Á sẽ tăng trưởng nhanh gấp đôi kinh tế Mỹ và gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng của Liên minh châu Âu. Đến năm 2020, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Hàn Quốc và Việt Nam có thể tạo ra lượng của cải nhiều hơn Mỹ, Nhật và châu Âu cộng lại.

Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc đều có dự trữ đôla lớn và dự kiến đang tính cách giảm chỗ dự trữ này. Dù xuất khẩu sang các nước công nghiệp lớn đã chững lại, thương mại nội vùng châu Á đang tăng trưởng nhanh và không nhất thiết cần phải sử dụng đồng USD. Đồng nội tệ châu Á dự kiến sẽ tăng giá so với đồng USD.

Đồng USD hạ giá là một thực tế buồn đối với Mỹ, dù điều này không thể tránh được. Đồng USD yếu khiến người Mỹ nghèo hơn bởi họ phải trả giá cao hơn cho hàng hóa nhập khẩu: quần áo, máy tính, xe ô tô, đồ chơi, thực phẩm … Việc quân đội Mỹ đóng quân ở nước ngoài sẽ còn tốn kém hơn bởi các chi phí ở đó đều leo thang nếu tính theo USD.

Nhập khẩu chững lại, áp lực của các công ty nước ngoài trong việc duy trì mức giá cạnh tranh tại thị trường Mỹ giảm, khả năng lạm phát có thể cao hơn.

Tín hiệu về giá cả tại một đất nước cho đến nay vẫn hết sức tự hào về khả năng sản xuất ra các sản phẩm công nghệ cao, đồng USD yếu sẽ khiến các công ty sản xuất chuyển trọng tâm sang cạnh tranh về giá cả hơn là chất lượng sản phẩm. Ảnh hưởng chính trị và uy tín của nước Mỹ có được nhờ vị thế “vua” của đồng USD sẽ biến mất,

Hơn thế nữa, đồng USD nằm ở vị trí trung tâm của kinh tế toàn cầu đã hơn nửa thế kỷ. Sự đi xuống của đồng USD, nếu không diễn ra chậm và từ từ sẽ có thể dẫn đến thời kỳ cạnh tranh giảm giá và chính sách thương mại thiếu bình đẳng.

Việc hệ thống tiền tệ toàn cầu bao lâu nay quá tập trung vào đồng USD cần được thay đổi. Điều này đồng nghĩa với việc đưa ra bộ khung bao gồm nhiều loại tiền tệ khác nhau như đồng euro, đồng yên, đồng nhân dân tệ và quyền rút tiền đặc biệt của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

Đó là lý do tại sao Bộ trưởng Tài chính Mỹ nên mời các Bộ trưởng Tài chính Anh, khu vực đồng tiền chung châu Âu, Nhật, Trung Quốc gặp bí mật trong khoảng thời gian từ Giáng Sinh cho đến năm mới để khởi động bàn thảo về vấn đề này. Hiện tồn tại một câu hỏi lớn: khi cán cân về quyền lực kinh tế thay đổi, hệ thống tiền tệ nào là phù hợp nhất và cần phát triển quá trình nào sau đó?

Từ cuối thập niên 1980, tôi đã tin rằng đồng USD mạnh chính là quyền lợi của nước Mỹ cũng như thế giới. Thế nhưng cho đến nay, hoàn cảnh đã thay đổi căn bản. Vấn đề hiện nay không chỉ còn là liệu đồng USD còn sụt giá trong thời gian dài mà còn là hai lựa chọn mới sẽ được chấp thuận.

Liệu chính phủ Mỹ và một số chính phủ nước khác có bình tĩnh và táo bạo để điều chỉnh mọi việc sang thời kỳ mới, nếu để thị trường quyết định, rủi ro gây chấn động thị trường tài chính sẽ không nhỏ.

(Theo Dân Trí/FT)

Tin đồn “tấn công” tiền tệ

picture

Sau động thái điều chỉnh chính sách tiền tệ (lãi suất cơ bản, tỷ giá) hơn một tuần, những tin đồn liên quan đến thị trường tiền tệ có tốc độ lây lan nhanh đến chóng mặt.

Tổng giám đốc một ngân hàng vô cùng ngạc nhiên khi tiếp nhận nhiều tin đồn gần như trong cùng một thời điểm


Lâu nay, giới đầu tư chứng khoán đã quá quen với những tin đồn. Nhưng nay, loại tin đồn thất thiệt này bắt đầu “tấn công” sang lĩnh vực tiền tệ, làm náo loạn thị trường và tác động xấu tới hoạt động điều hành chính sách.

Sau động thái điều chỉnh chính sách tiền tệ (lãi suất cơ bản, tỷ giá) hơn một tuần, những tin đồn liên quan đến thị trường tiền tệ có tốc độ lây lan nhanh đến chóng mặt.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank), cho biết ông vô cùng ngạc nhiên khi tiếp nhận nhiều tin đồn gần như trong cùng một thời điểm, như “Chính phủ sắp bắt buộc các ngân hàng thương mại dành tới 50% vốn điều lệ để mua trái phiếu Chính phủ”, “Ngân hàng Nhà nước sắp nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc so với mức hiện hành”, hay “Ngân hàng Nhà nước in tiền có mệnh giá tới 1 triệu đồng”...

Trả lời phóng viên, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nói: “Ngân hàng Nhà nước khẳng định, tất cả những thông tin trên hoàn toàn là bịa đặt!”.

Trước đó, trên cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước (www.sbv.gov.vn) cũng xuất hiện cảnh báo: “Hiện nay đang xuất hiện tin đồn cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều chỉnh nâng mức lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Ngân hàng Nhà nước khẳng định tin đồn trên là không đúng, Ngân hàng Nhà nước không có chủ trương thay đổi mức lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong thời điểm hiện nay”.

Trước khi các cơ quan an ninh kinh tế xem xét và xử lý, sau khi nhận được tin đồn, một số định chế tài chính như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) đã nhập cuộc.

Bà Phan Thị Chinh, Phó tổng giám đốc BIDV cho biết, ngày 2/12, tại cuộc họp về điều hành tỷ giá giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, hai bên đều đã thống nhất phải quyết tâm bình ổn thị trường, rút ngắn chênh lệch tỷ giá giữa trong và ngoài hệ thống đang tồn tại hiện nay. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng ủng hộ để ngân hàng thương mại có nguồn phục vụ doanh nghiệp nhập khẩu và nhu cầu thanh toán công nợ; đổi lại, các ngân hàng thương mại sẽ giao dịch đúng bằng giá quy định của Ngân hàng Nhà nước và ngay từ 3/12, BIDV sẽ thực hiện theo đúng cam kết này.

Bà Chinh cho biết thêm, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu để dỡ bỏ những bất cập tại Quyết định 09/2008/QĐ-NHNN về cho vay vốn bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú, nhằm hài hòa lợi ích của doanh nghiệp nắm giữ ngoại tệ, đồng thời thu hút thêm ngoại tệ vào hệ thống, giảm áp lực nhu cầu ngoại tệ một cách bất bình thường.

Như vậy, rất có thể sắp tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm mức dự trữ ngoại tệ từ 7% xuống 3 - 4% để các ngân hàng thương mại có đủ nguồn cung ứng cho thị trường. “Điều này đồng nghĩa, thị trường ngoại tệ sẽ không có đột biến trong thời gian tới”, bà Chinh nói.

Trong thời gian qua, không ít những tin đồn đã gây ảnh hưởng không tốt cho thị trường và hoạt động điều hành của cơ quan quản lý, nhưng chưa được xử lý triệt để, trong khi Nghị định 107/2008NĐ-CP ngày 22/9/2008 quy định mức xử phạt hành chính các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức, đưa tin thất thiệt, buôn lậu và gian lận thương mại mới dừng ở mức cao nhất vài chục triệu đồng.

Tuesday, 1 December 2009

Những phản hồi trước chính sách tiền tệ

Trưởng đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam: "IMF hoan nghênh quyết định điều chỉnh tỷ giá VND/USD của ngân hàng Nhà nước tuần trước".

Chính sách tỷ giá mới giữa VND/USD đã nhận được mối quan tâm đặc biệt của đại diện các doanh nghiệp trong hội nghị Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Trưởng đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam Benedict Bingham:

Chính sách tỷ giá bước đầu của lộ trình đúng đắn

IMF hoan nghênh quyết định điều chỉnh tỷ giá VND/USD của ngân hàng Nhà nước tuần trước. Tôi cho rằng, ngân hàng Nhà nước đã đúng vì trước triển vọng phục hồi kinh tế trong năm 2010 họ cần phản ứng nhanh với áp lực trên thị trường ngoại hối và nguy cơ lạm phát ngày một gia tăng. Tuy nhiên, tôi nghĩ biện pháp đó mới chỉ là bước đầu theo lộ trình đúng.

Một tuần trước khi có chính sách tỷ giá mới, thống đốc đã cam kết không phá giá VND. Theo cách hiểu của tôi, chắc đã có thảo luận trong Chính phủ về việc này, và cuối cùng đã kết luận là không có lựa chọn nào tốt hơn.

Tôi không có số liệu về các tài khoản ngoại tệ của các doanh nghiệp nhà nước trong hệ thống ngân hàng. Tôi chỉ biết là tổng tiền gửi ngoại tệ trong các ngân hàng trong nước là khoảng 20 tỉ USD. Tôi nghĩ rằng, tín hiệu của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước bán USD là đúng đắn.

Chủ tịch phòng Thương mại và công nghiệp Úc tại Việt Nam Paul Fairhead:

Cung cấp USD quá chặt chẽ

Hiện tại, việc cung cấp USD bị kiểm soát chặt chẽ đã gây khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp. Cung cầu không được đáp ứng và doanh nghiệp phải đối mặt với sự hao phí đáng kể trong việc thu mua USD để thực hiện các hợp đồng giao dịch bằng USD.

Vấn đề ngày càng trầm trọng hơn khi các cơ quan tài chính miễn cưỡng bán USD tại các hệ thống mua bán ngoại tệ của Chính phủ, nơi mọi người tin là có tỷ lệ ngoại tệ giá thấp. Sự chênh lệch giữa tỷ giá USD niêm yết và chợ đen đã đạt đỉnh điểm trong tháng 11.

Chúng tôi mong Chính phủ xem xét lại vấn đề này cũng như khó khăn hiện tại với các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Để trung hoà sự chênh lệch tỷ lệ giữa giá USD niêm yết và chợ đen, chúng tôi đề nghị Chính phủ chấp nhận chính sách cân bằng cung và cầu của đồng USD để giám sát giao dịch đồng USD được dễ dàng hơn.

Chúng tôi ủng hộ Chính phủ thay đổi vấn đề cơ bản gây sức ép đối với tiền tệ và cân bằng trong việc chi trả, và một lần nữa chứng minh cho năng lực quản lý chính sách tài chính và tiền tệ hợp lý. Theo cách này, chúng tôi hy vọng thấy được tính cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam tăng vì các nhà kinh doanh và đầu tư tiếp tục cam đoan tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Phó chủ tịch hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội Trần Anh Vương:

Sức ép lên doanh nghiệp, người tiêu dùng đang gia tăng

Chính sách tiền tệ, trong đó có tín dụng, quản lý ngoại tệ, vàng hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, khiến các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp rất nhiều khó khăn.

Chúng tôi quan ngại về việc điều hành kinh tế vĩ mô liên quan đến các thị trường tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, vàng hiện không có sự điều tiết thống nhất dẫn đến mỗi sự biến động của thị trường thế giới đều tác động đến hành vi đầu cơ, do vậy đầu vào của doanh nghiệp sản xuất không thể kiểm soát và hiệu quả xuất khẩu có thể bằng không hoặc âm.

Với đồng Việt Nam hiện đã mất giá khoảng hơn 20% so với USD, giá cả nhu yếu phẩm tiếp tục tăng, các mặt hàng chiến lược như xăng dầu luôn được điều chỉnh theo thị trường thế giới và tỷ giá ngoại tệ, sức ép lên doanh nghiệp và người lao động ngày càng gia tăng.

(Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Sunday, 29 November 2009

Đồng yen tăng giá bất lợi cho xuất khẩu của Nhật

(Ảnh: Reuters)

Tỷ lệ thất nghiệp giảm cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản, nhưng Tokyo lo ngại đồng yen lên giá có thể gây bất lợi cho xuất khẩu của nước này.

Tỷ lệ thất nghiệp của Nhật đã giảm tháng thứ ba liên tiếp vào tháng 10 xuống 5,1% cùng với chi tiêu của các hộ gia đình tăng 1,6% cho thấy triển vọng kinh tế tươi sáng hơn, nhưng chúng lại bị lu mờ bởi sự lên giá của đồng yen.

Bộ trưởng Tài chính Hirihisa Fujii không đề cập tới các kế hoạch sắp tới để can thiệp vào thị trường, nhưng nhấn mạnh Tokyo theo dõi sát sao diễn biến của nó và sẽ thực thi những bước đi cần thiết đầu tiên trong vòng 5 năm qua, nếu tình hình trở nên xấu hơn.

Ông cho biết việc đồng USD chỉ còn được giao dịch ở mức 85 yen/USD, mức thấp chưa từng có kể từ giữa thập niên 1930, đã làm dấy lên nỗi lo rằng các nhà xuất khẩu của Nhật Bản như Toyota, Sony sẽ mất lợi thế cạnh tranh ở các thị trường ngoài nước.

Đồng USD đã rớt xuống 84,92 yen trước khi nhích lên trên 86 yen vào cuối ngày 27/11. Đồng yen mạnh lên đã làm chứng khóan Nhật mất điểm với chỉ số Nikkei-225 giảm 3,2% còn 9.081,52 điểm.

Thủ tướng Yukio Hatoyama sau đó đã thảo luận việc đồng yen lên giá so với đồng USD với Nội các chính phủ và nói với báo giới rằng ngành xuất khẩu sẽ bị giáng một đòn mạnh trước việc đồng yen lên giá.

Thủ tướng còn nói thêm "chúng tôi phải cân nhắc các biện pháp, trong đó có ngân sách bổ sung, mà Chính phủ đang tính tới cho một thời điểm nào đó".

Ông Fujio Mitarai, chủ tịch Keidanren, tổ chức chuyên vận động hành lang doanh nghiệp, cảnh báo trong bối cảnh kinh tế đang dần phục hồi "đồng yen lên giá có thể dội một gáo nước lạnh vào nền kinh tế Nhật".

Đồng yen mạnh hơn gây tác động bất lợi cho các nhà xuất khẩu của Nhật Bản, khi phần lớn giả định tỷ giá là 90-95 yen/USD, bởi nó làm hàng hóa Nhật trở nên đắt hơn trên thị trường quốc tế và giảm bớt lợi nhuận bằng đồng USD của họ khi chuyển đổi sang đồng yen./.