Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts
Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts

Wednesday, 14 April 2010

Lãi suất huy động tại ACB có bất thường?

Biểu lãi suất huy động với nhiều kỳ hạn có từ 11% - 11,6%/năm của ACB bắt đầu áp dụng từ ngày 13/4/2010.

Ngân hàng Á châu (ACB) vừa ban hành biểu lãi suất huy động mới với những mức vượt trội so với mặt bằng chung trên thị trường
Ngân hàng Á châu (ACB) vừa ban hành biểu lãi suất huy động mới với những mức vượt trội so với mặt bằng chung trên thị trường.

Ngày 13/4, ACB ban hành biểu lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán linh hoạt lãi suất thả nổi. Trong đó, nhiều kỳ hạn ở một số loại tiền gửi đồng loạt ở mức cao so với mặt bằng chung hiện nay.

Cụ thể, lãi suất tiền gửi tiết kiệm lãi suất thả nổi bằng VND có mức cao nhất lên tới 11,6%/năm với các khoản tiền gửi có giá trị từ 10 tỷ đồng trở lên. Nhiều kỳ hạn khác, ứng với các khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng đến dưới 10 tỷ đồng cũng đồng loạt được áp lãi suất từ 10,7% - 11,58%/năm.

Tương tự, lãi suất tiền gửi thanh toán VND từ kỳ hạn 2 tháng trở lên cũng có từ 10,48% (khoản tiền dưới 100 triệu đồng) đến 11,6%/năm (từ 10 tỷ đồng); phổ biến trên 10,5%/năm.

Những mức lãi suất huy động trên của ACB vượt trội so với biểu lãi suất mà hầu hết các ngân hàng thương mại đang áp dụng (mức cao nhất phổ biến ở 10,499%/năm).

Trả lời VnEconomy chiều nay (14/4), ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng giám đốc ACB, cho rằng biểu lãi suất vừa ban hành đó không có gì là bất thường.

Theo giải thích của ông Toại, trước đây, ACB cũng như nhiều ngân hàng khác áp lãi suất huy động VND tối đa là 10,49%/năm. Tuy nhiên, bên cạnh lãi suất ngân hàng còn bỏ ra nhiều chi phí khác để thu hút người gửi tiền như tặng vàng, tặng tiền mặt, cộng thưởng lãi suất hay các hình thức khuyến mại khác.

“Thực chất, các hình thức khuyến mại và chi phí thêm đó cũng đã gián tiếp tạo những mức lãi suất như ACB vừa ban hành. Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích các ngân hàng mở rộng các chương trình tặng thưởng, khuyến mại đó và chúng tôi tập trung ở lãi suất huy động”, ông Toại giải thích.

Nhưng liệu biểu lãi suất mới của ACB có vượt “trần” 10,5%/năm mà Ngân hàng Nhà nước định hướng trước đó?

Về câu hỏi trên, ông Toại cho rằng hiện không có quy định nào về trần lãi suất huy động cả. Trước đây Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức 10,5%/năm là một tiêu chí để kiểm tra xem những trường hợp nào đưa lãi suất vượt mốc đó có vấn đề về thanh khoản hay không. Và nếu xét theo thực tế, nếu tính các chi phí gián tiếp nói trên thì hầu hết các ngân hàng đều có lãi suất cao hơn mốc định hướng này.

Một câu hỏi khác, với lãi suất huy động cao như vậy, ACB có điều kiện để áp lãi suất cho vay đầu ra “mềm” hơn, hay giữ được tỷ lệ lãi biến hợp lý?

Điều này cũng được ông Toại giải thích rằng, về cơ bản chi phí huy động vẫn không nhiều thay đổi với với việc áp tối đa 10,49%/năm trước đó, nên ACB vẫn giữ được những yêu cầu trong hoạt động cho vay; cũng như dự báo lãi suất cho vay nói chung có thể tiếp tục giảm thêm.

Phó tổng giám đốc ACB cho biết hiện đã lên kế hoạch dành 20.000 tỷ đồng cho vay với lãi suất tối đa 14%/năm, tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp xuất khẩu – những khách hàng mục tiêu của ngân hàng này.

(Theo Vneconomy)

Không nhân nhượng với ngân hàng ốm yếu

Những trường hợp không tăng đủ vốn điều lệ theo quy định hoặc gặp khó khăn về thanh khoản sẽ ít cơ hội trông cậy vào sự bao bọc của Nhà nước như trước.

Thông điệp này được cơ quan quản lý nhà nước kín đáo phát đi thời gian gầy đây, khi lường trước khả năng một số ngân hàng không đáp ứng yêu cầu tài chính.

Theo quy định của Chính phủ, 31/12/2010 là hạn chót để các ngân hàng cổ phần phải tăng vốn lên ít nhất 3.000 tỷ đồng. Trong tổng số 37 ngân hàng cổ phần đang hoạt động, khoảng 20 trường hợp chưa đạt mức vốn yêu cầu. Thế nhưng từ đầu năm tới nay, mới có 6 hồ sơ xin tăng vốn được duyệt, trong đó 3 hồ sơ đến từ những ngân hàng vốn trên 3.000 tỷ. Hai ngân hàng trong số này là Kiên Long và Saigon Bank, lần lượt xin nâng lên 2.000 tỷ và 1.500 tỷ.

Tăng vốn điều lệ là bài toán khó giải của các ngân hàng  nhỏ năm nay. Ảnh: Hoàng Hà
Tăng vốn điều lệ là bài toán khó giải của các ngân hàng nhỏ năm nay. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Cuối tháng này, mùa đại hội cổ đông mới kết thúc nhưng cũng đủ để người ta hình dung cách mà các ngân hàng thương mại cổ phần giải bài toán tăng vốn điều lệ. Phần đông chọn con đường tăng vốn thông qua cổ đông hiện hữu, số khác tìm đối tác trong, ngoài nước hoặc tính chuyện niêm yết. Tuy nhiên, việc có quá nhiều ngân hàng cùng lúc tìm cách tăng vốn sẽ khiến mục tiêu 3.000 tỷ trở nên xa vời với một số ngân hàng không lấy làm khỏe mạnh.

Đại hội cổ đông của Ngân hàng Phương Đông (OCB) hôm 12/4 đã thông qua phương án tăng vốn từ 2.000 tỷ lên 3.100 tỷ đồng. OCB sẽ tăng vốn thông qua việc phát hành từ thặng dư vốn, phát hành mới cho cổ đông hiện hữu, bán thêm cho đối tác chiến lược nước ngoài và bán chọn lọc cho đối tác trong nước. Kế hoạch niêm yết trong năm nay cũng đã được cân nhắc.

Trong số 20 ngân hàng đang trên đường đua về đích 3.000 tỷ đồng, Gia Định Bank phải chạy quãng đường dài nhất. Vốn điều lệ của ngân hàng hiện là 1.000 tỷ đồng. Theo như nghị quyết đại hội cổ đông của ngân hàng, dự kiến việc tăng vốn lên 2.000 tỷ sẽ hoàn tất vào tháng 8 và đợt cuối sẽ hoàn tất vào tháng 11 năm nay.

Trong đợt một, Gia Định sẽ phát hành gần 3,6 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và phát hành 94,6 triệu cổ phần chào bán cho cổ đông hiện hữu. Trong đợt tăng vốn lần hai lên 3.000 tỷ đồng, ngân hàng sẽ chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu và bán nốt số cổ phần nếu chưa bán hết trong đợt một.

Ngân hàng cũng dự trù sẵn khả năng xử lý số cổ phần không chào bán hết bằng cách tiếp tục chào bán cho các nhà đầu tư trong nước có nhu cầu với mức giá và điều kiện phù hợp, nhưng không thấp hơn giá chào bán cho cổ đông hiện hữu và có thể xin phép Ủy ban Chứng khoán cho gia hạn thời gian chào bán nếu vẫn chưa bán hết.

Theo báo cáo kết quả kinh doanh của Gia Định Bank, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn tự có bình quân đạt 5,13% và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân đạt 1,97%.

Ông Trần Thiên Hà, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán An Phát cho biết cổ phiếu ngân hàng giờ không còn là vua trên thị trường chứng khoán. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô hiện nay và với cách huy động vốn của các ngân hàng, cơ hội thành công trong việc nâng vốn điều lệ không dành cho những ngân hàng chiếu dưới, với mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 11-12%.

“Các ngân hàng có thể sẽ phải tự niêm yết, tự lấy tiền đó cho vay để họ tự nâng vốn của mình lên. Việc niêm yết hoàn toàn là giải pháp kỹ thuật để tăng vốn, còn sau đó phải đắp chiếu chờ thời. Có thể năm sau thị trường ấm lên, cổ phiếu ngân hàng lại có thể bán ra nhưng chi phí cơ hội cực kỳ lớn,” ông Hà nói.

Việc bán cho cổ đông hiện hữu về nguyên tắc không thể dưới mệnh giá. Trong khi giá cổ phiếu đang giao dịch loanh quanh ở mức mệnh giá và thanh khoản rất thấp thì nhiều cổ đông sẽ từ chối quyền mua. Thực tế hiện nay nhiều ngân hàng đang mắc vào tình trạng như vậy.

“Các ngân hàng năm nay lên sàn như MB, Habubank, Đông Á… sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư. Nên các ngân hàng nhỏ sẽ bị lãng quên nhiều. Thực ra giao dịch thấp thì mức độ đại chúng hóa sẽ kém, dẫn tới việc tăng vốn sẽ rất vất vả vì cổ đông hiện hữu chưa chắc đã tham gia,” ông Hà giải thích thêm.

Ông Đoàn Đức Vịnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Chứng khoán Âu Việt cho biết đa phần các ngân hàng trước sức ép tăng vốn sẽ tìm đến các tổ chức trong và ngoài nước.

“Hiện tại là thời điểm xấu để niêm yết nhưng về dài hạn vẫn thành công. Đây là cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài mua được cổ phần với tỷ lệ cao tại một ngân hàng Việt Nam hoặc sẽ có sự thâu tóm, mua bán sáp nhập với nhau giữa các ngân hàng”, ông Vịnh nhận định.

Trao đổi với VnExpress.net, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tuyên bố sẽ quyết thực hiện nghiêm lộ trình tăng vốn và không có sự nhân nhượng. Ngân hàng Nhà nước có các biện pháp khác nhau để xử lý những trường hợp không tăng đủ vốn theo quy định, trong đó có phương án buộc sáp nhập.

Từ đầu năm tới nay, Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị hành lang pháp lý phòng cho trường hợp phải xử lý các ngân hàng có vấn đề. Gần đây nhất, cơ quan này đã ban hành thông tư quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Trước đó, thông tư quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng cũng đã được ban hành. Dự thảo thông tư hướng dẫn thu hồi giấy phép ngân hàng và thanh lý dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước cũng đang trong giai đoạn lấy ý kiến. Theo một nguồn tin không chính thức, Ngân hàng Nhà nước cũng đã lập tổ công tác về mua bán sáp nhập các ngân hàng.

37 ngân hàng cổ phần của Việt Nam hiện nay chia ra nhiều nhóm khác nhau, tùy theo năng lực tài chính và quy mô hoạt động. Trong số này, không ít những trường hợp có lịch sử hoạt động yếu, được bơm vốn thêm và nâng cấp để tồn tại song vẫn chưa thể theo kịp mặt bằng, thậm chí đôi khi còn gây khó khăn cho thị trường chung.

Không phải vô tình mà trong Nghị quyết số 18 ngày 6/4, Chính phủ đưa ra yêu cầu bảo đảm ổn định, an toàn hệ thống tài chính ngân hàng, coi đây là một trong sáu giải pháp tiên quyết nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng; tăng cường kiểm tra, giám sát để đánh giá thực trạng hoạt động của từng tổ chức tín dụng và của toàn bộ hệ thống để có phương án xử lý kịp thời khi cần thiết.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết tới đây Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét xiết lại quy định thành lập ngân hàng cổ phần, trong đó dự kiến hạ tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân xuống còn một nửa so với hiện nay, để nâng cao tính đại chúng của ngân hàng, tránh nguy cơ một nhóm nhỏ cổ đông chi phối hoạt động ngân hàng.

Cơ quan này cũng sẽ nâng cao quy định về rủi ro trong hệ thống, đồng thời yêu cầu công khai minh bạch các đánh giá, xếp hạng ngân hàng. Thậm chí, danh sách những ngân hàng thuộc diện phải "bú sữa mẹ" sẽ được công bố ra công chúng nếu họ muốn nhận những đồng vốn cứu trợ từ Nhà nước.


(Theo Vnexpress)

USD tự do thấp hơn giá ngân hàng

USD giảm sâu hơn. Ảnh:VNN.
Giá USD tiếp tục giảm trong ngày 14/4. Lần đầu tiên, giá USD ngoài thị trường tự do thấp hơn cả giá ngân hàng. Giá USD tự do trên thị trường hiện là 19.010 - 19.040 đồng/USD, giảm10 - 20 đồng so với ngày hôm qua.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục giữ tỷ giá liên ngân hàng ở mức 18.544 đồng/USD. Tại các ngân hàng thương mại, giá USD được niêm yết ở mức 18.980 - 19.050 đồng/USD, giảm 10 đồng so với ngày 13/4.

Với mức giá trên, giá bán ra của ngân hàng thương mại đã cao hơn cả giá trên thị trường tự do. Đây có thể là lần đầu tiên diễn ra hiện tượng này.

Điều này cho thấy, tình hình cung cầu USD đã được giải quyết thỏa đáng. Chính sách neo tỷ giá ở mức cao để đưa hai loại tỷ giá trong và ngoài ngân hàng về gần nhau đã được thực hiện.

(Theo VietnamNet)

Tuesday, 13 April 2010

Ngân hàng đầu tiên vượt rào lãi suất huy động

Với biểu lãi suất Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) công bố hôm qua, lần đầu tiên sau hơn một năm, thị trường ngân hàng có mức lãi suất huy động chính thức trên 10,5%.

Kể từ 13/4, lãi suất huy động cao nhất tại ACB lên tới 11,6% một năm, áp dụng cho khách gửi từ 10 tỷ đồng trở lên, với kỳ hạn 36 tháng và lãi suất thả nổi 12 tháng (12 tháng điều chỉnh lãi suất một lần phù hợp với diễn biến thị trường). Với loại hình tiết kiệm này, khách gửi tiền sẽ được lợi nếu lãi suất có xu hướng tăng trong tương lai và ngược lại.

Mức đỉnh 11,6% cũng áp dụng cho loại hình tiết kiệm thông thường, khi khách gửi trên 10 tỷ đồng, kỳ hạn 13 tháng và lĩnh lãi cuối kỳ.

Đáng chú ý, với loại hình tiết kiệm thông thường, lãi suất kỳ hạn một tháng trở lên đều dâng trên mốc 10,5% một năm. Với kỳ hạn trên 3 tháng đến 13 tháng, nếu khách lĩnh lãi cuối kỳ sẽ hưởng lãi suất trên 11%. Hai kỳ hạn còn lại (24 và 36 tháng), lãi suất gần bằng nhau và thấp hơn kỳ hạn 13 tháng.

Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời  gian tới. Ảnh: Hoàng Hà
Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời gian tới. Ảnh: Hoàng Hà

Đây là lần đầu tiên sau hơn một năm, lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng chính thức lên trên 10,5%. Tháng 2/2009, lãi suất cơ bản giảm từ mức 8,5% xuống còn 7% một năm. Theo quy định lãi suất kinh doanh của các ngân hàng không vượt 150% lãi suất cơ bản, nên lúc đó lãi suất huy động bị khống chế dưới 10,5%.

Đến tháng 12/2009, lãi suất cơ bản tăng trở lại, lên mức 8% một năm, song để đảm bảo ổn định lãi suất cho vay, các ngân hàng được khuyến cáo tiếp tục huy động dưới 10,5%. Tuy nhiên, do áp lực cạnh tranh hút vốn, ngoài lãi suất niêm yết công khai dưới 10,5%, phần lớn các ngân hàng đều khuyến mãi, thưởng thêm và đẩy lãi suất thực trả cho khách lên cao hơn quy định.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước chủ trương tự do hóa lãi suất, cho phép các ngân hàng tự thỏa thuận lãi suất cho vay với khách hàng, thay vì bị khống chế bởi quy định không vượt 150% lãi suất cơ bản. Các ngân hàng cũng đề nghị dỡ trần lãi suất huy động 10,5%, thay vào đó sẽ xóa bỏ khuyến mãi và dần hình thành mặt bằng lãi suất theo cung cầu thị trường.

Một ngày sau quyết định gây sốc của ACB, chưa ngân hàng nào tuyên bố thay biểu lãi suất huy động. Bà Cao Thúy Nga, Phó tổng giám đốc Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB) cho biết sẽ cân nhắc điều chỉnh nếu trần lãi suất huy động trên thị trường được dỡ bỏ. Tuy nhiên theo bà Nga, mức tăng sẽ không lớn và cũng chưa tiến hành ngay bởi thanh khoản của ngân hàng hiện ổn định, nguồn vốn huy động đang tăng khá, đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng.

Tại cuộc gặp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gần đây, các ngân hàng lớn cho biết sẽ ngừng khuyến mãi và ổn định lãi suất huy động ở mức 11-12%, sau đó giảm dần để bớt sức ép với lãi suất cho vay.


(Theo Vnexpress)

Monday, 21 December 2009

Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng tăng

picture

Trong tuần, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 120.350 tỷ VND và 2.033 triệu USD, bình quân đạt khoảng 24.070 tỷ VND và 406 triệu USD/ngày - Ảnh: Quang Liên.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng tuần qua có xu hướng tăng so với tuần trước

Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng tuần qua có xu hướng tăng so với tuần trước.

Cụ thể, mức lãi suất bình quân của tất cả các kỳ hạn đã tăng lên mức trên 10%/năm. Mức dao động của các kỳ hạn từ 0,24% đến 1,08%/năm, trong đó lãi suất bình quân kỳ hạn 6 tháng có mức tăng lớn nhất. Lãi suất cho vay thấp nhất là 5,00%/năm; lãi suất cho vay cao nhất là 12%/năm (không tính lãi suất không kỳ hạn).

Lãi suất bình quân qua đêm tuần qua ở mức 10,71%/năm, tăng 0,66%/năm so với kỳ trước; lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại đều từ 11,30%/năm trở lên. Riêng lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần là 11,66%/năm (đây là kỳ hạn có doanh số phát sinh lớn nhất); lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng là 12%/năm.

So với tuần trước đó, lãi suất giao dịch bình quân bằng USD tuần qua có xu hướng giảm đối với các kỳ hạn ngắn và tăng ở các kỳ hạn dài (3 tháng đến 12 tháng). Lãi suất bình quân qua đêm là 0,85%/năm (giảm 0,09% so với kỳ trước). Lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động ở mức 1,53% đến 3,82%/năm, không phát sinh giao dịch kỳ hạn 6 tháng.

Trong tuần, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 120.350 tỷ VND và 2.033 triệu USD, bình quân đạt khoảng 24.070 tỷ VND và 406 triệu USD/ngày.

So với tuần liền trước, doanh số giao dịch tuần qua tăng lên đối với cả VND và USD (tăng 8.507 tỷ đồng và 580 triệu USD). Doanh số giao dịch kỳ hạn qua đêm và 1 tuần chiếm tỷ trọng lớn nhất; trong đó tổng doanh số giao dịch kỳ hạn 1 tuần là 55.293 tỷ VND, chiếm 46% so với tổng doanh số giao dịch.
Theo Vneconomy

Sunday, 20 December 2009

Mỹ đóng cửa thêm 7 ngân hàng

First Federal Bank sở hữu tài sản 6,1 tỷ USD và quản lý 4,5 tỷ USD tiền gửi của khách hàng.

Chưa hết năm 2009, nhưng số nhà băng bị giải thể ở Mỹ từ đầu năm tới giờ đã lên tới con số 140
Chưa hết năm 2009, nhưng số nhà băng bị giải thể ở Mỹ từ đầu năm tới giờ đã lên tới con số 140. Trong ngày 18/12, các nhà chức trách Mỹ đã làm thủ tục đóng cửa 7 ngân hàng, gồm hai ngân hàng quy mô lớn ở bang California.

Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) cho biết, họ đã tiếp quản cả 7 ngân hàng trên. Lớn nhất trong loạt đổ vỡ này là ngân hàng First Federal Bank ở bang California, sở hữu tài sản 6,1 tỷ USD và quản lý 4,5 tỷ USD tiền gửi của khách hàng. Kế đến là một ngân hàng nữa cũng thuộc bang này, có tên Imperial Capital Bank, với 4 tỷ USD tài sản và 2,8 tỷ USD tiền gửi.

California là một trong những tiểu bang chịu tác động nặng nề nhất từ sự xuống dốc của thị trường nhà đất tại Mỹ. Do đó, nhiều ngân hàng ở đây đang chịu sức ép lớn từ những khoản nợ địa ốc khó đòi. Từ đầu năm tới nay, đã có 17 ngân hàng tại California lâm nạn.

Tuy nhiên, California vẫn thua các bang Georgia và Illinois về số ngân hàng bị đóng cửa năm nay. Tới thời điểm này của năm, đã có 25 ngân hàng ở bang Georgia và 21 ngân hàng ở bang Illinois “sập tiệm”. Đứng thứ tư trong “top 5” bang này là Florida với 14 ngân hàng đổ vỡ từ đầu năm.

Bị giải thể cùng đợt này với hai ngân hàng lớn của California còn có hai nhà băng “tỷ đô” nữa. Đó là New South Federal Savings Bank ở bang Alabama với 1,5 tỷ USD tài sản và 1,2 tỷ USD tiền gửi; và Peoples First Community Bank of Panama City ở Florida, với 1,8 tỷ USD tài sản và 1,7 tỷ USD tiền gửi.

Ba ngân hàng đổ vỡ còn lại trong đợt này là những ngân hàng có quy mô nhỏ hơn.

RockBridge Commercial Bank ở bang Georgia sở hữu khối tài sản trị giá 294 triệu USD và quản lý 291,7 triệu USD tiền gửi của khác hàng. Có trụ sở tại bang Michigan, Citizens State Bank of New Baltimore có 168,6 triệu USD tài sản và 157,1 triệu USD tiền gửi. Còn lại, Independent Bankers' Bank là một ngân hàng ở bang Illinois, nắm trong tay số tài sản có trị giá 585,5 triệu USD và quản lý 511,5 triệu USD tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.

FDIC cho biết, họ đã tìm được khách cũng là các ngân hàng tiếp quản toàn bộ số tài khoản tiền gửi và mua lại phần lớn tài sản trong các ngân hàng đổ vỡ trên. Số tài sản còn lại sẽ được FDIC quản lý để bán lại sau.

Cơ quan này ước tính, 7 vụ đổ vỡ lần này sẽ tiêu tốn của quỹ bảo hiểm tiền gửi số tiền hơn 1,8 tỷ USD.

Tới thời điểm này, kinh tế Mỹ đã có nhiều dấu hiệu phục hồi. Tuy nhiên, hậu quả của thời kỳ khủng hoảng và suy thoái vẫn chưa buông tha các ngân hàng của nước này. Các vụ vỡ nợ và đóng cửa ngân hàng vẫn diễn ra đều đặn ở nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Con số 140 ngân hàng đổ vỡ từ đầu năm tới nay là con số thống kê cao nhất về số vụ giải thể ngân hàng tại Mỹ kể từ cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay lên tới đỉnh điểm vào năm 1992. Năm ngoái, chỉ có 25 ngân hàng Mỹ đổ vỡ.

Năm nay, FDIC đã phải chi 30 tỷ USD để giải quyết các vụ đóng cửa ngân hàng, và dự kiến sẽ phải chi thêm khoảng 100 tỷ USD cho công tác này trong 4 năm tới.

Tuần trước, Chính phủ Mỹ đã quyết định mở rộng chương trình giải cứu tài chính trị giá 700 tỷ USD cho tới tận tháng 10 năm sau. Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Timothy Geithner cho rằng, việc gia hạn chương trình này sẽ giúp ngăn chặn bất ổn gia tăng trong ngành ngân hàng, hỗ trợ các con nợ địa ốc thoát khỏi việc bị tịch biên nhà, và giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn.

(Theo AP)-Vneconomy

Saturday, 19 December 2009

Nước Mỹ đã chứng kiến sự sụp đổ của 140 ngân hàng trong năm 2009

Nước Mỹ đã chứng kiến sự sụp đổ của 140 ngân hàng trong năm 2009

Tổng số 7 vụ sụp đổ ngân hàng trong ngày thứ Sáu tiêu tốn của Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi 1,8 tỷ USD.


Các nhà điều tiết ngành ngân hàng Mỹ đã đóng cửa thêm 7 ngân hàng. Tổng số ngân hàng Mỹ đóng cửa trong năm nay lên tới 140.

Các tổ chức tài chính Mỹ thật sự trải qua “phép thử” là cuộc khủng hoảng. Tập đoàn bảo hiềm tiền gửi Mỹ dự đoán số lượng ngân hàng đóng cửa sẽ còn tiếp tục tăng cao.

Tổng số tài sản của các ngân hàng bị đóng cửa lên tới 14,4 tỷ USD. Tốc độ sụp đổ của các ngân hàng hiện đang ở mức cao nhất trong 17 năm.

2 trong số 7 ngân hàng bị đóng cửa thuộc bang California có tên Federal Bank of California và Federal Bank of California. Ngân hàng OneWest Bank và ngân hàng City National Corp đã đồng ý mua lại tiền gửi và tài sản của 2 ngân hàng trên.

Trong số các ngân hàng bị đóng cửa, ngân hàng Federal Bank là ngân hàng lớn nhất. Tổng tài sản là 6,1 tỷ USD và tổng tiền gửi đạt 4,5 tỷ USD. Ngân hàng khác bị đóng cửa có tên Imperial Capital có tổng tài sản 4 tỷ USD và 2,8 tỷ USD tiền gửi.

Đầu tuần này, Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ đã nâng ngân sách năm 2010 thêm 56% lên mức 4 tỷ USD. Số lượng nhân viên trực thuộc tập đoàn bảo hiểm tiền gửi năm sau sẽ là 8.653 từ mức 7.010 vào năm nay.

Chủ tịch Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ, bà Sheila Bair trong tuyên bố gần đây nhận xét ngân sách mới sẽ giúp đảm bảo nước Mỹ có đủ khả năng ứng phó nếu số lượng ngân hàng sụp đổ tiếp tục tăng. Tổng số 7 vụ sụp đổ ngân hàng trong ngày thứ Sáu tiêu tốn của Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi 1,8 tỷ USD.

Các ngân hàng cho vay của Mỹ hiện đang khó khăn do phải chịu sức ép từ các khoản vay trên thị trường bất động sản thương mại, giá các bất động sản thương mại đang giảm sâu. Giá các bất động sản thương mại hiện đã giảm 43% so với mức đỉnh cao thiết lập vào tháng 10/2007.

Theo Dân Trí/CNNMoney

Thursday, 17 December 2009

Lãi suất cơ bản: Không có hại, sao phải bỏ?

picture

Ngân hàng Nhà nước có quyền can thiệp cơ chế lãi suất của các tổ chức tín dụng trong trường hợp cần thiết để ổn định thị trường tiền tệ.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi)

Lãi suất cơ bản không có tác tại gì đến nền kinh tế thì tại sao lại bỏ đi?

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Phùng Quốc Hiển đặt câu hỏi, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi), sáng 17/12.

Phiên thảo luận có sự tham dự của đại diện Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.

Phải công bố lãi suất

Việc không quy định lãi suất cơ bản tại Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) đã từng làm nóng diễn đàn Quốc hội tại kỳ họp vừa qua, với nhiều ý kiến không đồng thuận. Thậm chí có ý kiến phê phán gay gắt việc Ngân hàng Nhà nước “ lặng lẽ bỏ lãi suất cơ bản mà không một lời giải thích”.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, mới đây, thường trực Ủy ban Kinh tế và cơ quan soạn thảo dự án luật đã thống nhất được 6 vấn đề. Trong đó có vấn đề lãi suất.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước phải công bố lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ và điều hành thị trường. Các tổ chức tín dụng cần được quyền và có trách nhiệm trong việc xác định lãi suất trong giao dịch với khách hàng cũng như với các tổ chức tín dụng khác dựa trên nguyên tắc thị trường và lãi suất điều hành do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Ngân hàng Nhà nước được quyền can thiệp cơ chế lãi suất của các tổ chức tín dụng trong trường hợp cần thiết để ổn định thị trường tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời, có trách nhiệm công bố một loại lãi suất để làm căn cứ áp dụng cho các hoạt động mang tính chất dân sự ngoài phạm vi hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Mở đầu phiên thảo luận sáng nay, Chủ nhiệm Phùng Quốc Hiển cho biết ông rất tâm đắc với lãi suất cơ bản, và ví nó như tấm biển báo hay chiếc barie, tác động trực tiếp ngay đến thị trường. Chứ bản chất các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thì phải chạy theo lợi nhuận chứ không thể chỉ hoạt động vì trách nhiệm với xã hội.

Chính sách lãi suất cơ bản không có tác tại gì cả cho nền kinh tế thì tại sao lại bỏ đi, ông Hiển đặt câu hỏi.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận cũng cho rằng: dứt khoát phải giữ lãi suất cơ bản, vì Ngân hàng Nhà nước vẫn là cơ quan của Chính phủ thì phải thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.

Mặc dù Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã trình bày hiện trên thế giới chỉ còn có hai nước còn quy định lãi suất cơ bản, song nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng nhiều nước là ngân hàng trung ương nên khác nước ta là chuyện bình thường.

“Phải có lãi suất để định hướng chính sách tiền tệ”, Phó chủ tịch Nguyễn Đức Kiên kết lại phần thảo luận.

Chính sách tiền tệ Quốc gia là gì?

Thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ Quốc gia được coi là một nội dung rất quan trọng của dự thảo luật. Tuy nhiên, ngay cả nội hàm của khái niệm chính sách tiền tệ Quốc gia vẫn là điều gây tranh cãi.

Tại báo cáo tiếp thu, giải trình, Ủy ban Kinh tế và cơ quan soạn thảo luật cho rằng, mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Còn về nội dung, chính sách tiền tệ có phạm trù rất rộng, bao hàm việc xác định mục tiêu của chính sách, việc hình thành cơ chế vận hành, việc xây dựng, ban hành các giải pháp, biện pháp cũng như việc sử dụng vận hành các công cụ chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu đề ra.

Do vậy, quy định cụ thể nội dung chính sách tiền tệ trong Luật Ngân hàng sẽ không thể bao quát hết được.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến thảo luận vẫn tỏ ra rất băn khoăn, bởi không làm rõ vấn đề này thì không thể phân định rõ thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước trong việc quyết định thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia.

Nhiều ý kiến cho rằng nếu chỉ quy định Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm như dự thảo luật thì chưa được. “ Việc lưu thông đồng tiền phải do Quốc hội quyết định chứ”, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thuận phát biểu.

Còn theo Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên thì “khó đến mấy cũng phải nghiên cứu xem chính sách tiền tệ Quốc gia gồm những gì, ghi hẳn ra một điều tại dự luật để Quốc hội có đủ căn cứ xem xét, quyết định”.
(Theo Vneconomy)

Tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ

picture

Sự phối kết hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, nhất là trong quá trình điều hành, ở một chừng mực nhất định còn thiếu sự phối hợp, hay thậm chí là “lệch pha” nhau.

Chính sách tiền tệ bắt đầu có dấu hiệu thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản từ đầu tháng 12

Chính sách tiền tệ bắt đầu có dấu hiệu thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản từ đầu tháng 12, trong khi chính sách tài khoá dù có chặt hơn đôi chút nhưng nhìn chung vẫn theo hướng nới lỏng.

Bài học từ giai đoạn trước cho thấy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai chính sách này để phát huy tốt hiệu quả của mỗi chính sách, góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ.

Theo TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của bất cứ quốc gia nào. Tuy mỗi chính sách đều có mục tiêu riêng nhưng chung quy lại đều cùng theo đuổi mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ mô là tăng trưởng kinh tế bền vững, kiểm soát lạm phát và công ăn việc làm cao.

Từ “mở” đến “thắt”

TS. Hoàng Huy Hà, Phó tổng giám đốc BIDV nhận định, trong 2 năm gần đây, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá đã 3 lần được điều chỉnh để đối phó với những biến động của kinh tế trong nước và thế giới, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Cụ thể, sau giai đoạn mở rộng cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ nửa cuối năm 2007 đến nửa đầu năm 2008, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá được điều chỉnh theo hướng thắt chặt để đối phó với lạm phát, mà đỉnh cao là việc nâng lãi suất cơ bản lên 14%/năm vào tháng 6/2008.

Tuy nhiên, từ cuối năm 2008, nguy cơ lạm phát cao tạm thời lắng xuống. Để từng bước phục hồi kinh tế, tạo đà cho tăng trưởng GDP, Chính phủ chủ trương nới lỏng hơn chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá trên cơ sở bám sát theo dõi và phản ứng linh hoạt với diễn biến thị trường.

Việc nới lỏng hai chính sách này đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP khi chỉ số này liên tục tăng qua các tháng, nhưng theo TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cái giá phải trả là nguy cơ lạm phát cao quay trở lại cũng nhưng rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô.
Bởi vậy, Chính phủ bắt đầu phát đi những tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ, cụ thể là động thái nâng lãi suất cơ bản lên 8%/năm kể từ ngày 1/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước.

“Những động thái vừa qua của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đang có một sự dịch chuyển nhất định trong điều hành chính sách, từ kích thích kinh tế để duy trì tăng trưởng sang mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thể hiện qua các quyết định về lãi suất, tỷ giá và một số biện pháp giám sát, kiểm soát tín dụng vừa qua”, ông Thành nói.

Mặt khác, để đạt được mục tiêu nói trên rất cần sự phối hợp của chính sách tài khoá bởi theo ông Thành, chính sách tài khoá mặc dù đã “chặt hơn đôi chút” nhưng so với những năm trước thì vẫn được nới lỏng, thể hiện ở con số thâm hụt ngân sách được Quốc hội quyết định là 6,2% trong năm 2010.

Làm thế nào để không “lệch pha”

Mặc dù vậy, theo đánh giá của TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, trên thực tế, sự phối kết hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, nhất là trong quá trình điều hành, ở một chừng mực nhất định còn thiếu sự phối hợp, hay thậm chí là “lệch pha” nhau.

Ví dụ trước tháng 6/2007, chính sách tiền tệ được nới lỏng quá mức khiến cung tiền trong lưu thông tăng vọt, trong khi mức độ mở rộng của chính sách tài khoá thấp hơn nhiều so với chính sách tiền tệ khiến nền kinh tế không thể hấp thụ được nguồn vốn lớn, hiệu quả đầu tư thấp, nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài.

Hay như cuối năm 2007, đầu năm 2008, trong khi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thì chính sách tài khoá lại nới lỏng khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Chỉ đến khi những dấu hiệu lạm phát trở nên rõ ràng, chính sách tài khoá mới được điều chỉnh lại.

Bởi vậy, theo TS. Võ Trí Thanh, để hạn chế những ảnh hưởng bất lợi giữa hai chính sách, nâng cao hiệu quả điều hành, nhất thiết phải có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, đảm bảo thống nhất mục tiêu và có sự cân nhắc tác động trái chiều của các chính sách.

Trên cơ sở đó, trong quá trình thực thi, sự phối hợp sẽ được thể hiện trong các vấn đề: bù đắp thâm hụt ngân sách, điều tiết cung tiền, liều lượng tham gia của mỗi chính sách...
Sự phối hợp này còn phụ thuộc vào hiệu lực của bản thân hai chính sách: số nhân của chính sách tài khoá thông qua thay đổi thuế, thay đổi chi tiêu của Chính phủ; tác động của lãi suất lên tiêu dùng, đầu tư, tiết kiệm trong chính sách tiền tệ...

Đấy là chưa nói đến bối cảnh thực hiện của mỗi chính sách: chính sách tiền tệ trong môi trường đô la hoá cao, chỉ số ICOR... Độ trễ của mỗi chính sách cũng là một vấn đề vì quy trình quyết định các chính sách này không giống nhau.
(Theo Vneconomy)

Muốn lập ngân hàng phải có tối thiểu 3.000 tỷ đồng

picture

Bên cạnh các thành viên chuyển đối, sau khoảng chục năm, Việt Nam mới có thêm ngân hàng được thành lập mới trong năm 2008, gồm LienVietBank, TienPhongBank và BaoVietBank.

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến hoàn thiện quy định mới về cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến các cá nhân, tổ chức để đưa ra quy định mới về cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần.

Dự thảo thông tư của Ngân hàng Nhà nước đưa ra quy định: Để thành lập ngân hàng thương mại cổ phần trước hết cần có vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật tại thời điểm thành lập. Như vậy, theo quy định hiện hành, đến năm 2010, mức vốn này tối thiểu phải là 3.000 tỷ đồng.

Mức vốn trên huy động từ các tổ chức, cá nhân nhưng không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp.

Vốn tham gia thành lập ngân hàng của các tổ chức phải đảm bảo các điều kiện: Đối với các tổ chức được cấp giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm thì việc góp vốn phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành; đối với tổ chức khác, vốn chủ sở hữu trừ đi các khoản đầu tư dài hạn được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn còn lại tối thiểu bằng số vốn góp theo cam kết; đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định theo quy định tối thiểu phải bằng số vốn góp theo cam kết.

Cũng theo nội dung dự thảo trên, ngân hàng xin phép thành lập phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia góp vốn, trong đó có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập là tổ chức.

Đáng chú ý là cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đó chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng, không được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng; tổ chức hoặc tổ chức đó cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng.

Đối với cổ đông là tổ chức, phải có thời gian hoạt động tối thiểu là 3 năm và kinh doanh có lãi trong 3 năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng. Nếu cổ đông là doanh nghiệp nhà nước phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn.

Với cổ đông sáng lập, là cá nhân phải đảm bảo một số điều kiện, trong đó đáng chú ý là yêu cầu phải là người quản lý doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong ít nhất 3 năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng; hoặc có bằng đại học hoặc trên đại học về ngành kinh tế hoặc luật; cam kết hỗ trợ ngân hàng về tài chính để giải quyết khó khăn trong trường hợp ngân hàng khó khăn về vốn hoặc khả năng thanh khoản.

Đối với cổ đông sáng lập là tổ chức, phải có thời gian hoạt động tối thiểu là 5 năm; là doanh nghiệp (không phải là ngân hàng thương mại) phải có vốn chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng trong 5 năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng; kinh doanh có lãi trong 5 năm liền kề năm xin phép.

Đối với cổ đông sáng lập tổ chức là ngân hàng thương mại phải đảm bảo có tổng tài sản tối thiểu 50.000 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 2% tổng dư nợ tại thời điểm xin góp vốn; không vi phạm các tỷ lệ về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng theo qui định của Ngân hàng Nhà nước từ năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng đến thời điểm được cấp giấy phép; kinh doanh có lãi trong 5 năm liền kề năm xin phép; cam kết hỗ trợ ngân hàng về tài chính để giải quyết khó khăn trong trường hợp ngân hàng khó khăn về vốn hoặc khả năng thanh khoản.

Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ khi thành lập ngân hàng, trong đó các cổ đông sáng lập là tổ chức phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập.

Ngoài ra, để thành lập ngân hàng, các đầu mối phải đảm bảo các yêu cầu khác về điều lệ, đề án, đáp ứng các điều kiện về công nghệ, nhân sự, chứng minh được các khả năng hoạt động, cạnh tranh, quản lý rủi ro…

Một nội dung chính của dự thảo là các quy định về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng mới thành lập.

Dự thảo đưa ra quy định, đối với cổ đông sáng lập, trong thời gian 5 năm kể từ ngày được cấp giấy phép, chỉ được chuyển nhượng số cổ phần phổ thông trong tổng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng của mình cho các cổ đông sáng lập khác của ngân hàng.

Cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng số cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm kể từ ngày ngân hàng được cấp giấy phép; sau thời hạn này, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.

Đối với cổ đông không phải là cổ đông sáng lập, trong thời gian 3 năm kể từ ngày được cấp giấy phép, chỉ được chuyển nhượng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng cho cổ đông khác trong danh sách cổ đông của ngân hàng tại thời điểm giấy phép có hiệu lực.

Sau các thời hạn nêu trên, các cổ đông được chuyển nhượng cổ phần và duy trì tỷ lệ sở hữu cổ phần theo quy định của pháp luật hiện hành.
(Theo Vneconomy)

Wednesday, 16 December 2009

Các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam vẫn có lãi

Các tổ chức tín dụng nước ngoài đã làm tốt vai trò cầu nối cho nhà đầu tư đến với Việt Nam.

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thời gian qua, hoạt động kinh doanh của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam vẫn đạt kết quả tốt với mức thu nhập trước thuế đạt 2.612 tỷ đồng.

Nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng 17,8% và 10,8%; tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008.

Hoạt động của các ngân hàng liên doanh tăng trưởng khá ổn định, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ VND; huy động vốn tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3%, tổng tài sản có tăng 18,3% so với cuối năm 2008.

Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng có mức huy động động vốn trong 10 tháng đầu năm tăng 17,5%, dư nợ tín dụng tăng 41,8%, tổng tài sản có tăng 40,5% so với cuối năm 2008.

Phát biểu tại buổi gặp mặt thân mật với đại diện các tổ chức tín dụng nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam ngày 15/12 vừa qua, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh: Các tổ chức tín dụng nước ngoài đã làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và các doanh nghiệp trong nước.

Bên cạnh đó, các tổ chức này đều hoạt động an toàn, hiệu quả, tuân thủ các quy định về đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay, khối các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam bao gồm 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc; 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 08 tổ chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và 56 văn phòng đại diện./.
Theo Vietnamplus

Cổ phiếu ngân hàng Nhật “nổi sóng”

Các cổ phiếu khối ngân hàng đã đạt mức tăng mạnh sau khi tờ Nikkei loan báo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã cho phép các ngân hàng lớn ở Nhật được hoãn tăng vốn và cho phép thực hiện trong 10 năm - Ảnh: AP.

Cổ phiếu khối ngân hàng Nhật đã tăng mạnh và giúp chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng điểm trở lại
Ngày 16/12, cổ phiếu khối ngân hàng Nhật đã tăng mạnh mẽ và giúp chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng điểm trở lại.

Các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Australia và Hàn Quốc đã giảm điểm, tuy nhiên sức tăng gần 1% của thị trường Nhật đã giúp chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,2%, lên 119,54 điểm.

Các cổ phiếu khối ngân hàng đã đạt mức tăng mạnh sau khi tờ Nikkei loan báo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã cho phép các ngân hàng lớn ở Nhật được hoãn tăng vốn và cho phép thực hiện trong 10 năm.

Cổ phiếu Mizuho Financial Group tăng 15%, cổ phiếu Sumitomo Mitsui Financial Group và Aozora Bank tăng 14%, cổ phiếu Shinsei Bank lên 13%. Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Nikkei 225 tăng 0,93%, chốt ở mức 10.177,41.

Tại thời điểm 16h50, chứng khoán Anh, Đức, Pháp đang tăng trên 0,6%. Còn tại Mỹ, chỉ số tương lai của Dow Jones và S&P 500 cũng tăng trên 0,3%.

Chuyển qua thị trường khác, cơ quan thống kê Australia vừa cho biết GDP của nước này trong quý 3/2009 đã tăng 0,2% so với quý 2, sau khi tăng 0,6% trong quý 2/2009. Trên thị trường chứng khoán, chỉ số ASX phiên này tiếp tục mất điểm, với biên độ 0,25%, chốt ở mức 4.676,1.

Liên quan đến thị trường Trung Quốc, Bộ Thương mại nước này vừa cho biết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 11 đã tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái lên 7,02 tỷ USD, từ mức tăng 5,7% trong tháng 10/2009.

Trên thị trường chứng khoán, chỉ số Shanghai Composite tiếp tục giảm 0,59%, xuống 3.255,21. Tuy nhiên, nếu so với cuối năm 2009 thì chỉ số này đã phục hồi được 79% giá trị.

Điểm qua kết quả giao dịch của các thị trường châu Á khác: Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 0,93%. Chỉ số VN-Index của Việt Nam mất 3,77%. Chỉ số Straits Times của Singapore tăng 0,25%. Chỉ số BSE của Ấn Độ lên 0,57%. Chỉ số KOSPI của Hàn Quốc mất 0,1%.

* Thị trường Đài Loan vẫn nghỉ giao dịch

Tiếp tục cập nhật thị trường châu Âu và Mỹ…

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
Mỹ Dow Jones 10,452.00- N/A N/A N/A
Nasdaq 2,201.05 N/A N/A N/A
S&P 500 1,107.93 N/A N/A N/A
Anh FTSE 100 5,285.77 N/A N/A N/A
Đức DAX 5,811.34 N/A N/A N/A
Pháp CAC 40 3,834.09 N/A N/A N/A
Đài Loan Taiwan Weighted 7.819,13 N/A N/A N/A
Nhật Bản Nikkei 225 10.083,48 10.177,41 Up 93,93 Up0,93
Hồng Kông Hang Seng 21.813,92 21.611,74 Down202,18 Down0,93
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.665,85 1.664,24 Down 1,61 Down0,10
Singapore Straits Times 2.802,71 2.805,61 Up 6,91 Up0,25
Trung Quốc Shanghai Composite 3.274,46 3.255,21 Down 19,25 Down0,59
Ấn Độ BSE 16.967,07 16.974,12 Up 96,96 Up0,57
Australia ASX 4.687,80 4.676,10 Down 11,70 Down0,25
Việt Nam VN-Index 459,44 442,10 Down 17,34 Down3,77
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

Tuesday, 15 December 2009

Mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ

picture

Trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay - Ảnh: Quang Liên.

Ngân hàng Nhà nước vừa bổ sung thêm 2 hai đối tượng nhu cầu được vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Nhà nước vừa bổ sung thêm 2 hai đối tượng nhu cầu được vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.

Ngày 15/12, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN về bổ sung Điều 1 Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú.

Thông tư mới bổ sung thêm 2 đối tượng nhu cầu vốn được vay bằng ngoại tệ, gồm: Các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu; trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, thì khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay. Thứ hai, đối với các nhu cầu vốn ngoài quy định tại Điều 1 Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN phải được sự chấp nhận trước bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc sửa đổi, bổ sung cơ chế cho vay bằng ngoại tệ là góp phần cân đối cung - cầu ngoại tệ trên thị trường và hài hòa lợi ích giữa bên vay và cho vay, phù hợp với chủ trương của Quốc hội và Chính phủ về ổn định thị trường ngoại hối.

Trước đó, theo quy định tại Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối được xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn thuộc 3 nhóm đối tượng.

Một là để thanh toán cho nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Hai là để trả nợ nước ngoài trước hạn, nếu khoản vay đó đảm bảo các điều kiện: Chấp hành đúng các quy định về vay, trả nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối; khách hàng vay có khả năng trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ, tiết kiệm được chi phí vốn vay so với việc vay vốn nước ngoài.

Ba là, để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Theo Vneconomy

Monday, 14 December 2009

Không có chuyện NHNN “bơm” 30 nghìn tỷ đồng cho NHTM

Không có chuyện NHNN “bơm” 30 nghìn tỷ đồng cho NHTM

Tuy nhiên về huy động vốn, NH Nhà nước sẵn sàng can thiệp để ổn định thanh khoản của các NH tạm thời thiếu hụt vốn.


Theo thông tin từ Tuổi Trẻ, trong ngày 14-12 Ngân hàng (NH) Nhà nước đã có hai cuộc họp với các NH về vấn đề tỉ giá và lãi suất huy động vốn.

Về tỉ giá, NH Nhà nước cho biết sẽ thực hiện đồng bộ các quyết định nhằm chấm dứt tình trạng găm giữ USD của doanh nghiệp. Cụ thể, điều chỉnh quyết định 09 theo hướng cho doanh nghiệp xuất khẩu được vay ngoại tệ, từ đó bán lại nguồn thu ngoại tệ cho NH; sẽ quy định trần cũng như giảm dần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp.

NH Nhà nước cũng yêu cầu các NH cam kết không được mua/ bán USD vượt trần quy định, cả trong giao dịch với doanh nghiệp và trên thị trường liên NH. NH Nhà nước sẽ mua ngoại tệ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, từ đó bán cho các NH để can thiệp thị trường.

Về huy động vốn, NH Nhà nước sẵn sàng can thiệp để ổn định thanh khoản của các NH tạm thời thiếu hụt vốn. Đổi lại, các NH không được huy động VND vượt 10,5%/năm. Cũng tại cuộc họp sáng 14-12, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết không có NH nào thiếu hụt thanh khoản và các NH đã chuẩn bị đủ vốn để đáp ứng nhu cầu chi trả lương, thưởng của doanh nghiệp trong dịp tết.

Theo số liệu của NH Nhà nước, đến nay huy động vốn toàn nền kinh tế tăng 28%, mức khá cao vì trong năm 2008 dù lãi suất cao hơn nhưng huy động vốn chỉ tăng 23%.

Theo thống kê của NHNN tuần qua (từ ngày 4/12 đến ngày 10/12/2009), doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 111.842 tỷ VND và 4.452 triệu USD, bình quân đạt khoảng 22.368 tỷ VND và 290 triệu USD/ngày. So với tuần trước, doanh số giao dịch bằng VNĐ tuần này tăng 29.077 tỷ đồng trong khi doanh số giao dịch bằng USD giảm 1.388 triệu USD.

Tổng doanh số giao dịch qua đêm của toàn thị trường là 46.418 tỷ VNĐ, chiếm 42% so với tổng doanh số giao dịch. Lãi suất bình quân qua đêm đạt mức 10,05%/năm, tăng 1,83%/năm so với kỳ trước

Sáng qua (14/12), trên các sàn chứng khoán rộ lên tin đồn về việc Ngân hàng Nhà nước đã “bơm” gần 30.000 tỷ đồng cho các ngân hàng thương mại cải thiện thanh khoản. Trước tin đồn trên, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã chính thức bác bỏ tin này.

Theo TTXVN, thống đốc cho biết thêm: “Ngân hàng Nhà nước đang có chủ trương hạn chế tăng trưởng tín dụng để kiềm chế lạm phát. Khuyến khích cơ chế cạnh tranh trên thị trường ngân hàng, các ngân hàng tùy theo khả năng mà có cơ chế lãi suất huy động và cho vay phù hợp”.


Theo Tuổi Trẻ, TTXVN, SBV

Châu Âu thúc IMF áp thuế "đặc biệt" với ngân hàng

Xem hình

Châu Âu cuối tuần qua đã ủng hộ đề xuất của Anh và Pháp kêu gọi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra loại "thuế đặc biệt" đối với các ngân hàng, công ty bảo hiểm và thị trường trên toàn cầu.

Các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) đã tán thành đề xuất của Thủ tướng Anh Gordon Brown, vốn trước đó nhận được sự ủng hộ của Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, kêu gọi IMF xem xét cái gọi là thuế "Tobin" toàn cầu.

Ý tưởng này nằm trong số những đề xuất mà các quốc gia EU muốn xem xét để đảm bảo hàng nghìn tỷ USD của người nộp thuế được sử dụng để giải cứu lĩnh vực tài chính trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sẽ được hoàn trả một phần từ những khoản lợi nhuận thời bùng nổ.

Sau hội nghị thượng đỉnh 2 ngày ở Brussel cuối tuần qua, 27 thành viên EU nhất trí rằng sự suy giảm kinh tế đòi hỏi có sự đổi mới giữa các thể chế tài chính và xã hội mà họ phục vụ, nhằm đảm bảo những khoản hỗ trợ bằng tiền của người nộp thuế được bảo vệ trước các nguy cơ.

Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh EU hối thúc IMF xem xét một loạt lựa chọn, trong đó có phí bảo hiểm, quỹ giải pháp và thuế giao dịch toàn cầu.

Tuy nhiên, mặc dù tán thành các mục tiêu này, song Thủ tướng Đức Angela Merkel nói rằng hiến pháp Đức không cho phép bà làm theo Anh và Pháp áp các mức thuế một lần đối với tiền thưởng kiếm được trong năm nay của giới quản lý ngành ngân hàng.

Thủ tướng Anh Brown nhấn mạnh thuế giao dịch sẽ hình thành nên một phần thỏa thuận toàn cầu dài hạn, nhằm đảm bảo rằng lợi nhuận của thời đại kinh tế thịnh vượng thuộc về người dân, chứ không phải giới quản lý ngân hàng.

Theo nhà kinh tế đoạt Giải Nobel James Tobin, loại thuế trên có thể giúp làm giảm tình trạng đầu cơ trên các thị trường toàn cầu.

Còn Bộ trưởng Tài chính Anh Alistair Darling cho rằng nó sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các ngân hàng đóng góp vào sự "phồn thịnh" của thế giới.

Tuy nhiên, ý tưởng theo phong cách "Robin Hood" đó đã không nhận được sự hưởng ứng của Mỹ.

Nhóm 20 nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới (G20) đã đề nghị IMF tiến hành nghiên cứu khả thi của biện pháp này.

Còn Tổng giám đốc IMF Dominique Strauss-Kahn cảnh báo rằng nó sẽ rất khó thực hiện./.



Theo thuvienphapluat

Tuần qua, dư nợ vốn hỗ trợ lãi suất tăng 751 tỷ đồng

picture

Tính đến ngày 10/12, dư nợ cho vay vốn hỗ trợ lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 108.942,76 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đến ngày 10/12 đạt 414.828,74 tỷ đồng

Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đến ngày 10/12 đạt 414.828,74 tỷ đồng.

Như vậy, so với ngày 3/12/2009, dư nợ cho vay đã tăng 750,77 tỷ đồng, tương đương 0,18%, từ mức giảm 1.808,95 tỷ đồng (-0,43%) trong tuần trước đó.

Trong đó, dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đạt 276.476,95 tỷ đồng - giảm 399,83 tỷ đồng, tương đương -0,14%; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 108.942,76 tỷ đồng - tăng 469,91 tỷ đồng, tương đương 0,43%; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài đạt 21.105,79 tỷ đồng - tăng 704,18 tỷ đồng, tương đương 3,45%; công ty tài chính đạt 8.303,24 tỷ đồng - giảm 23,49 tỷ đồng, tương đương -0,28%.

Đối với số dư nợ phân theo đối tượng khách hàng vay vốn, tính đến ngày 10/12, doanh nghiệp nhà nước đã vay 59.818,86 tỷ đồng.

Doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… đã vay 289.918,67 tỷ đồng. Hộ sản xuất vay 65.091,22 tỷ đồng.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2072/QĐ-TTg quy định việc thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 2% đối với các khoản vay trung và dài hạn để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất - kinh doanh. Chính sách hỗ trợ lãi suất được áp dụng theo cơ chế đã quy định tại Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009. Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ khi giải ngân khoản vay trong năm 2010.
Theo Vneconomy

Sunday, 13 December 2009

Qua năm mới cho vay tiền

Nhiều doanh nghiệp, cá nhân đang rối khi từ nhiều ngày qua ngân hàng (NH) đã dừng cho vay và cho biết chỉ xét cho vay trở lại vào đầu năm 2010. Một số trường hợp đã vay, khi đáo hạn NH thu nợ luôn thay vì tiếp tục cho vay.

Lý do NH dừng cho vay là không còn nhiều vốn và đã sử dụng hết chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của cả năm 2009.

Các lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2009 - Đồ họa: Ngọc Thành

Vay làm gì cũng khó

Chị T., nhân viên một công ty nước ngoài tại Khu công nghiệp VN - Singapore, cần vay vốn NH mua nhà nhưng gõ cửa các NH cổ phần lớn là Á Châu (ACB), Techcombank và Eximbank đều có chung câu trả lời “tạm ngưng cho vay, sang năm 2010 mới giải quyết”. Ngay doanh nghiệp cũng khó tiếp cận vốn.

Ông Nguyễn Đức Thanh - giám đốc Công ty TNHH nông sản thực phẩm xuất khẩu Tân An, Long An - cho biết mới đây NH thông báo tạm ngưng cho vay, chờ sang năm 2010 mới cho vay lại. Ông Thanh cho biết từ nay đến Tết Nguyên đán nếu NH vẫn hạn chế cho vay, doanh nghiệp sẽ phải vay bên ngoài với lãi suất cao hơn.

Theo ông Trần Quốc Mạnh, tổng giám đốc Công ty Sản xuất thương mại Sài Gòn (Sadaco), hầu hết doanh nghiệp nhỏ và vừa đều khó tiếp cận vốn vay, đặc biệt các dự án triển khai từ quý 4-2009 do NH đã hết hạn mức. Hiện chỉ có các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, có nguồn thu ngoại tệ mới được NH ưu tiên giải quyết.

Ông Chu Văn An, phó tổng giám đốc Công ty thủy sản Minh Phú, cho biết vẫn được NH cho vay do là khách hàng lớn, có sử dụng nhiều dịch vụ khác của NH. Còn ông Nguyễn Ngọc Anh, tổng giám đốc Công ty đầu tư thương mại SMC, cho rằng cái khó của doanh nghiệp không phải là lãi suất tăng mà là không được vay. Vay lại khoản vay cũ đã khó nói gì đến vay bổ sung.

“Chẳng hạn, doanh nghiệp cần vốn lưu động 10 tỉ đồng/tháng, nay bị siết còn 6-7 tỉ đồng/tháng thì tất yếu doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và ảnh hưởng dây chuyền. Khi doanh nghiệp không có tiền trả nợ cho bên bán hàng thì bên bán hàng nợ lại của doanh nghiệp khác hoặc không trả nợ được cho NH...” - ông Anh nói.

Khi nào cho vay lại?

NH Việt Á cho biết ba tháng trở lại đây đã hạn chế cho vay vì huy động VND tăng chậm trong khi mục tiêu tăng tín dụng đề ra từ đầu năm là 70% gần như đã chạm đích. Hiện NH dồn vốn cho những hợp đồng đã ký trước đây, đồng thời cơ cấu lại các khoản vay, doanh nghiệp kinh doanh tốt mới được vay lại, ngược lại sẽ thu hồi nợ.

NH Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng thu hẹp đối tượng cho vay. Ông Hồ Xuân Nghiễm, phó tổng giám đốc, cho biết chỉ cho vay với khách hàng có sử dụng nhiều dịch vụ của NH. Ông Nghiễm cho biết nguồn vốn NH trong thời gian gần đây không còn dồi dào nên phải ưu tiên vốn cho những khách hàng làm ăn có hiệu quả. Ông cũng cho biết Sacombank đã đạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 57%. Ông Hồ Hữu Hạnh, giám đốc NH Nhà nước TP.HCM, cho biết hiện nay tăng trưởng tín dụng ở hầu hết các NH tại TP.HCM đều đã đạt hoặc vượt kế hoạch.

Theo TS Lê Xuân Nghĩa - phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tình trạng thiếu vốn vào cuối năm là điều tất yếu vì nhu cầu tăng rất lớn. Doanh nghiệp cần tiền để trả nợ, thanh toán lương, cá nhân rút tiền để mua sắm... khiến lượng tiền gửi ở NH giảm mạnh, buộc NH phải hạn chế cho vay mới.

Bao giờ NH sẽ cho vay trở lại bình thường? Theo ông Đỗ Minh Toàn - phó tổng giám đốc ACB, hiện đã sắp hết năm 2009, sang năm 2010 tăng trưởng tín dụng cũng sẽ 25-30%. Do vậy, dự đoán tốc độ tăng trưởng tín dụng trong tháng 1 và 2-2010 sẽ tăng lại. Thế nhưng, tổng giám đốc một NH thương mại cho biết còn tùy thuộc vào nguồn vốn vì gần đây huy động vốn rất khó khăn. Ông Nghiễm nhận định sau Tết Nguyên đán NH mới có thể cho vay lại bình thường khi nguồn vốn đã bớt căng thẳng.

Coi chừng ách tắc

Theo thông lệ, vào cuối năm nhu cầu thanh toán, mua sắm tăng mạnh, chẳng những sử dụng hết tiền có trên tài khoản, kéo tiền gửi tại NH giảm mạnh mà doanh nghiệp, cá nhân còn vay mượn thêm. Đây cũng là lúc nhu cầu vốn và tiền mặt tăng vọt. Để đáp ứng nhu cầu này, NH Nhà nước phải bơm thêm tiền vào nền kinh tế thông qua các NH.

Thế nhưng, đầu tháng 11-2009, NH Nhà nước đã phát tín hiệu sẽ siết chặt nguồn tiền để kiểm soát tín dụng theo mục tiêu chống lạm phát. Với tín hiệu này, các NH hiểu rằng năm nay không thể trông chờ NH Nhà nước mà phải tự gói ghém khoản vốn còn lại để đảm bảo chi trả cho khách hàng trong các tháng trước tết. Nếu tiếp tục cho vay sẽ không còn tiền để trả cho doanh nghiệp.

Theo nhận định của các chuyên gia NH, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, NH Nhà nước đã đạt hai mục tiêu. Thứ nhất là giảm bớt nhu cầu ngoại tệ trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010, giảm sức ép lên tỉ giá. Doanh nghiệp A không vay được tiền để nhập hàng thì cũng không có nhu cầu mua ngoại tệ. Nhiều doanh nghiệp không vay được tiền sẽ khiến nhu cầu ngoại tệ giảm. Thứ hai là nếu hãm được đà tăng tín dụng năm 2009 sẽ giảm bớt đà tăng tín dụng của năm 2010, loại bớt nguy cơ dẫn đến lạm phát cao trong năm 2010.

Giả sử kết thúc năm 2009, dư nợ tín dụng cả nền kinh tế là 100 tỉ đồng thì qua năm 2010 nếu tín dụng tăng 30%, tổng dư nợ cuối năm 2010 là 130 tỉ đồng. Nhưng nếu dư nợ tín dụng cuối năm 2009 tăng lên 120 tỉ đồng, cũng với mức tăng 30%, dư nợ cuối năm 2010 sẽ là 156 tỉ đồng... Cho vay nhiều, tiền trong lưu thông cao, nhiều người có tiền mua hàng sẽ gây áp lực lên lạm phát.

Thế nhưng, các chuyên gia NH cũng cho rằng cho vay nhiều chưa hẳn là nguyên nhân dẫn đến lạm phát mà là cho vay không thu được nợ, tiền từ NH đổ vào các dự án kém hiệu quả và không quay trở về NH mới là nguy cơ dẫn đến lạm phát. Vì vậy, quá chặt tay khi kiểm soát tín dụng có thể dẫn đến đình đốn, ách tắc. Ngoài ra, lạm phát còn do nhiều nguyên nhân, do bội chi ngân sách, thiên tai (dẫn đến giá cả tăng) hoặc từ yếu tố bên ngoài như giá dầu và nguyên liệu trên thế giới tăng cao, đâu phải chỉ do yếu tố tiền tệ.

PGS.TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, cho rằng đừng nên cột đà tăng tín dụng ở con số cố định mà phải linh hoạt, tùy vào chất lượng tín dụng và tăng trưởng của nền kinh tế. Phải cảnh giác với lạm phát. Nhưng tiền tệ là máu huyết, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng “thiếu máu”, dẫn đến tăng trưởng chậm nếu tín dụng bị kiểm soát quá chặt. Ông Ngân cũng lưu ý phải cân nhắc vì tín dụng những tháng cuối năm 2009 tạo đà tăng trưởng của năm 2010.

T.TU.

Nguồn: A.HỒNG - T.SƠN (Tuổi Trẻ)