Showing posts with label Thuế TNCN. Show all posts
Showing posts with label Thuế TNCN. Show all posts

Wednesday, 14 April 2010

Nghẽn mạng, ùn tắc khi quyết toán thuế TNCN

Ảnh minh họa.
Phần lớn câu hỏi đặt ra tại cuộc đối thoại giữa Cục Thuế Hà Nội và các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn diễn ra vào đầu tuần này liên quan đến thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Điều này cho thấy, việc triển khai thuế TNCN vẫn còn vướng mắc.

Theo số liệu của cơ quan thuế, cả nước hiện có hàng trăm ngàn trường hợp bị trùng số chứng minh nhân dân - căn cứ bắt buộc để khai báo hồ sơ thuế. Việc này đang gây nhiều khó khăn không chỉ cho cá nhân thuộc đối tượng phải nộp thuế, mà còn đối với cả DN khi thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo luật do không thể làm được mã số thuế (MST) cho cá nhân. “Khi đi làm MST cho người lao động, trong nhiều trường hợp, cơ quan thuế không cấp MST cho cá nhân vì có số chứng minh nhân dân trùng với cá nhân khác. Hệ quả là, không ít cá nhân bị thiệt thòi do không được giảm trừ gia cảnh khi xác định thu nhập chịu thuế”, đại diện Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương cho biết.

Điều đáng nói là, việc nhiều người trùng số chứng minh nhân dân đã được phát hiện từ 1 năm trước, nhưng đến thời điểm này, khi thời hạn cuối cùng để quyết toán thuế TNCN năm 2009 sắp hết (ngày 30/5/2010), mà Bộ Tài chính vẫn chưa có hướng xử lý cụ thể. “Chúng tôi đang kiến nghị Bộ Tài chính, trong phần kê khai MST, cho phép gắn thêm vào số chứng minh thư tên địa phương cư trú của người nộp thuế”, bà Vũ Thị Mai, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết.

Thực hiện Đề án 30 về đơn giản hoá thủ tục hành chính, ngành thuế kiến nghị xoá bỏ 11 thủ tục, đơn giản hoá khoảng 230 thủ tục trong tổng số trên 330 thủ tục hiện hành. Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều DN, mặc dù Bộ Tài chính đã triển khai cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện Luật Thuế TNCN, như ban hành Thông tư 02/2010/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung Thông tư 84/2008/TT-BTC, song nhiều thủ tục hiện hành vẫn còn rất phiền hà đối với người nộp thuế.

Thực tế cho thấy, kể từ đầu tháng 3 đến nay (thời điểm cá nhân bắt đầu nộp quyết toán thuế TNCN năm 2009), chi cục thuế tại nhiều địa phương, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM, luôn diễn ra cảnh của hàng trăm người xếp hàng, chen lấn để được quyết toán thuế. Các webisite của cơ quan thuế, đặc biệt là wesite tncnonline.com.vn của Tổng cục Thuế, luôn trong tình trạng nghẽn mạng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, theo đại diện của nhiều DN, là do các quy định hiện hành bắt buộc cá nhân có thu nhập nhiều nơi phải trực tiếp quyết toán thuế, chứ không thể uỷ quyền cho kế toán DN nơi mình làm việc quyết toán thay.

Ông Ngô Văn Quang, Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế TNCN (Tổng cục Thuế) thừa nhận, tình trạng nghẽn mạng và ùn tắc tại các cơ quan thuế trong thời điểm quyết toán thuế TNCN một phần là do các quy định hiện hành chưa cho phép uỷ quyền quyết toán thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập từ hai nơi trở lên.

Ông Quang cho biết, Tổng cục Thuế sẽ xây dựng cơ chế cho phép cá nhân được ủy quyền cho kế toán nơi họ có thu nhập thường xuyên thực hiện các báo cáo quyết toán thuế, nhưng cá nhân vẫn phải trực tiếp thực hiện quyết toán thuế tại cơ quan thuế. Điều này có nghĩa là, tình trạng “tranh nộp báo cáo quyết toán thuế TNCN” vẫn chưa có hướng xử lý triệt để. Như vậy, đến ngày 30/5, những cá nhân chưa thể thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2009 mà không phải do lỗi của họ, thì vẫn bị cơ quan thuế phạt chậm nộp thuế năm 2009.

Một khúc mắc khác liên quan đến thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản. Theo quy định hiện hành, cá nhân chuyển nhượng bất động sản nếu không có lãi (thu nhập) thì không phải nộp thuế TNCN; giá tính thuế xác định trên hợp đồng chuyển nhượng, nhưng nếu giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì căn cứ vào giá do chính quyền quy định. Quy định như vậy, song không ít cá nhân kinh doanh bất động sản cho biết, nhiều trường hợp chuyển nhượng bất động sản bị thua lỗ mà vẫn phải nộp thuế TNCN, vì giá nhà đất do UBND cấp tỉnh đưa ra năm sau thường cao hơn năm trước.

(Theo Đầu Tư)

Tuesday, 13 April 2010

Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu

Ngày 08/04/2010 của Bộ Tài chính ban hàng Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu; khấu trừ số thuế của cá nhân nộp thiếu; hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa theo quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu

Tổ chức trả thu nhập tiền lương, tiền công được cá nhân nhận thu nhập uỷ quyền quyết toán thuế có trách nhiệm lập tờ khai quyết toán thuế TNCN theo hướng dẫn tại Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02/2010; Công văn số 450/BTC-TCT ngày 08/02/2010 của Bộ Tài chính và nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định. Theo quyết toán thuế chỉ có cá nhân nộp thừa thì tổ chức trả thu nhập hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của các cá nhân nộp thừa lớn hơn tổng số thuế của các cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế của cá nhân nộp thiếu cộng với số tiền phải hoàn thuế từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của cá nhân nộp thừa bằng với tổng số thuế của cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ số thuế của các cá nhân nộp thiếu để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa.

Tập tin đính kèm:
CV4283_Huong dan bu tru PIT.doc [39 KiB]

Sunday, 29 November 2009

Chỉ dành cho người có thu nhập cao: "Thủ tục kê khai, nộp thuế thu nhập"

1. Nơi kê khai, nộp thuế:
+ Cơ quan chi trả thu nhập có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc cơ quan thuế cấp nào quản lý thì kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân tại cơ quan thuế đó.
+ Cơ quan chi trả thu nhập không có hoạt động sản xuất kinh doanh thì thực hiện kê khai, nộp thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trường hợp cơ quan chi trả thu nhập đóng tại địa bàn cấp huyện, thị xã thì kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế nơi đóng trụ sở
+ Cá nhân đăng ký thuế tại cơ quan thuế thì kê khai, nộp thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Thời hạn nộp tờ khai cho cơ quan thuế chậm nhất là ngày 10 và nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước chậm nhất vào ngày 25 của tháng tiếp theo tháng phát sinh thu nhập.

Xác định ngày nộp thuế thu nhập:
+ Đối với trường hợp nộp thuế bằng chuyển khoản qua ngân hàng thì ngày nộp thuế là ngày Ngân hàng, tổ chức tín dụng ký xác nhận trên giấy nộp tiền.
+Đối với trường hợp nộp thuế bằng tiền mặt thì ngày nộp thuế là ngày Kho bạc Nhà nước nhận tiền thuế hoặc ngày cơ quan thuế cấp Biên lai.

3. Biểu mẫu kê khai (ban hành kèm theo Thông tư số 12/2005/TT-BTC ngày 04/02/2005):

- Đối với cơ quan chi trả thu nhập:

+ Mẫu số 03a/TNTX: kê khai về thuế khấu trừ theo biểu luỹ tiến.

+ Mẫu số 03b/TNTX: kê khai về thuế khấu trừ 10%.

+ Mẫu 05/TNTX: kê khai thuế đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam;

+ Mẫu số 06/TNKTX: kê khai thuế thu nhập không thường xuyên.

- Đối với cá nhân nộp thuế trực tiếp tại cơ quan thuế: sử dụng mẫu số 04/TNTX.

Chuyển nhượng bất động sản: Hướng dẫn tính thuế TNCN


Mới đây, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 3929/TCT-TNCN hướng dẫn cụ thể thêm về thuế Thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản.


Đối tượng áp dụng theo hướng dẫn tại Công văn này là: Cá nhân có hợp đồng góp vốn với tổ chức, cá nhân xây dựng nhà để được hưởng quyền mua căn hộ, mua nền nhà thực hiện chuyển nhượng lại hợp đồng góp vốn cho tổ chức, cá nhân khác theo đúng quy định của pháp luật; Cá nhân đã có hợp đồng mua nhà, mua căn hộ với tổ chức, cá nhân xây dựng nhà thực hiện chuyển nhượng lại hợp đồng cho tổ chức, cá nhân khác theo đúng quy định của pháp luật. Về kê khai nộp thuế: Các cá nhân trên thực hiện kê khai nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản theo mẫu số 11/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính. Riêng chỉ tiêu [04] trong mẫu số 11/KK-TNCN phản ánh các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì phản ánh hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng mua nhà, mua căn hộ đã ký kết giữa cá nhân với tổ chức, cá nhân xây dựng nhà.

Về áp dụng thuế suất và tính thuế TNCN:

Đối với các trường hợp có đủ điều kiện xác định được thu nhập chịu thuế TNCN thì áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập chịu thuế.

Công văn này cũng hướng dẫn việc xác định giá vốn và chi phí liên quan. Theo đó, việc xác định giá vốn và chi phí liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng cụ thể để tính thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp được xác định như sau:

- Đối với những cá nhân có hợp đồng vay vốn của các tổ chức tín dụng để mua căn hộ, mua nền nhà, thực tế dùng tiền vay để góp vốn hoặc nộp tiền mua nhà; có chứng từ trả lãi tiền vay phù hợp với hợp đồng vay của các tổ chức tín dụng để mua căn hộ, mua nền nhà thì khi xác định thu nhập chịu thuế, khoản trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn thực tế đã góp cũng được xác định là chi phí hợp lý theo lãi vay thực tế.

- Đối với các trường hợp mới chỉ góp một phần vốn (chưa nộp đủ số tiền theo hợp đồng) thì giá vốn của hợp đồng chuyển nhượng được xác định như sau:

Giá vốn của hợp đồng chuyển nhượng = Tổng số vốn phải góp theo hợp đồng - Phần vốn góp còn thiếu (chưa nộp)

Đối với các trường hợp không đủ điều kiện để áp dụng thuế suất 25% thì áp dụng thuế suất 2% tính trên giá chuyển nhượng, cụ thể là: Trường hợp giá chuyển nhượng hợp đồng, vốn góp, nền, chuyển nhượng hợp đồng mua căn hộ không xác định được giá thực tế hoặc giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng, cơ quan thuế phải ấn định giá chuyển nhượng;

Trường hợp hợp đồng gốc đã được chuyển nhượng qua nhiều chủ và đã làm thủ tục chuyển nhượng hợp đồng với tổ chức cá nhân xây dựng nhà trước ngày 26/09/2009 nhưng không xác định được giá vốn của người nộp thuế đứng tên trên hợp đồng khi chuyển nhượng sau này, hoặc có xác định được giá vốn và chi phí liên quan nhưng giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng, cơ quan thuế phải ấn định giá chuyển nhượng. Việc ấn định giá chuyển nhượng này thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 3 mục II phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính

Công văn số 3929/TCT-TNCN cũng hướng dẫn: Theo quy định, thời gian hiệu lực thi hành của Thông tư số 161/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính là ngày 26/09/2009, do đó đối với những hợp đồng chuyển nhượng và đã làm thủ tục chuyển tên với các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản trước ngày 26/09/2009 thì không phải nộp thuế TNCN theo hướng dẫn tại Thông tư số 161/2009/TT-BTC. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản có ký hợp đồng nhận góp vốn của cá nhân để được hưởng quyền mua nền, mua căn hộ hoặc bán nhà có trách nhiệm lưu giữ danh sách các cá nhân đã chuyển nhượng hợp đồng góp vốn trước ngày 26/09/2009 và chịu trách nhiệm về tính chính xác; nếu có hành vi hợp thức hoá cho các trường hợp chuyển nhượng để trốn thuế thì bị xử lý vi phạm theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Đối với các trường hợp làm thủ tục chuyển nhượng hợp đồng kể từ ngày 26/09/2009, các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản trước khi làm thủ tục chuyển tên trên hợp đồng phối hợp với cơ quan thuế để đôn đốc các cá nhân có hợp đồng chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế TNCN theo quy định nêu trên.

Friday, 27 November 2009

Tôi đã có mã số thuế cá nhân,nhưng tôi lâu không dùng và đã quên mất.Muốn tìm lại mã số thuế cá nhân của tôi?

Hỏi: Tôi đã có mã số thuế cá nhân,nhưng tôi lâu không dùng và đã quên mất.Muốn tìm lại mã số thuế cá nhân của tôi?

Đáp: Cấp lại Thẻ mã số thuế cá nhân
1. Tên thủ tục: Cấp lại Thẻ mã số thuế cá nhân
2. Trình tự thực hiện
Cá nhân đã được cơ quan thuế cấp Thẻ mã số thuế cá nhân nhưng bị mất hay Thẻ mã số cá nhân bị rách, nát thì NNT phải làm đơn đề nghị CQT cấp lại Thẻ mã số thuế cá nhân, đơn này gửi cho CQT nơi đăng ký thẻ trước đây. CQT thực hiện cấp lại lại Thẻ mã số thuế cá nhân trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của NNT
3. Hồ sơ
a) Thành phần hồ sơ, bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp lại Thẻ mã số thuế cá nhân
b) Số lượng hồ sơ: 01 bộ
4. Thời hạn giải quyết:
CQT thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký thuế trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của NNT
5. Cơ quan thực hiện: Cục thuế, Chi cục thuế
6. Phí, lệ phí: Theo quy định

Wednesday, 25 November 2009

Chuyên gia nước ngoài được miễn thuế thu nhập cá nhân

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 01/10/2009 ban hành Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA. Quy chế này áp dụng cho đối tượng là các chuyên gia nước ngoài tham gia quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA tại Việt Nam và thành viên gia đình của họ. Theo đó, chuyên gia và thành viên gia đình của họ được cấp thị thực Việt Nam có giá trị nhập xuất cảnh nhiều lần theo đề nghị của cơ quan chủ quản chương trình, dự án ODA; những chuyên gia và thành viên gia đình của họ có thời gian công tác và lưu trú ở Việt Nam từ 06 tháng trở lên được xét cấp thị thực nhiều lần cho cả thời hạn làm việc tối đa là 03 năm (nếu có yêu cầu). Trong thời gian công tác tại Việt Nam, chuyên gia nước ngoài được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện chương trình, dự án ODA. Trong thời gian lưu trú tại Việt Nam, chuyên gia và thành viên gia đình của họ được miễn đóng góp cá nhân vì lợi ích công cộng, an ninh, quốc phòng của Nhà nước Việt Nam; được miễn đăng ký chuyên môn, giấy phép hành nghề và được miễn việc cấp giấy phép lao động.
Quyết định này cũng quy định, chuyên gia phải tái xuất khẩu, xuất khẩu hoặc chuyển nhượng, biếu tặng xe ô tô, xe gắn máy hai bánh trong thời hạn ít nhất 30 ngày trước khi kết thúc thời hạn công tác tại Việt Nam theo xác nhận chuyên gia nước ngoài của cơ quan chủ quan dự án. Trong trường hợp không kịp tái xuất khẩu, xuất khẩu, chuyển nhượng, biếu tặng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy, thì chuyên gia phải làm thủ tục trả biển kiểm soát và hủy đăng ký xe tại cơ quan cảnh sát giao thông và phải ủy quyền cho cơ quan chủ quản dự án giải quyết các việc này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 20/11/2009 và thay thế Quyết định số 211/1998/QĐ-TTg ngày 31/10/1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ở Việt Nam.