Tuesday, 13 April 2010

Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu

Ngày 08/04/2010 của Bộ Tài chính ban hàng Công văn số 4283/BTC-TCT, về việc Hướng dẫn bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu; khấu trừ số thuế của cá nhân nộp thiếu; hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa theo quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu

Tổ chức trả thu nhập tiền lương, tiền công được cá nhân nhận thu nhập uỷ quyền quyết toán thuế có trách nhiệm lập tờ khai quyết toán thuế TNCN theo hướng dẫn tại Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02/2010; Công văn số 450/BTC-TCT ngày 08/02/2010 của Bộ Tài chính và nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định. Theo quyết toán thuế chỉ có cá nhân nộp thừa thì tổ chức trả thu nhập hoàn thuế cho cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của các cá nhân nộp thừa lớn hơn tổng số thuế của các cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế của cá nhân nộp thiếu cộng với số tiền phải hoàn thuế từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa. Nếu tổng số thuế của cá nhân nộp thừa bằng với tổng số thuế của cá nhân nộp thiếu thì tổ chức trả thu nhập khấu trừ số thuế của các cá nhân nộp thiếu để hoàn trả cho các cá nhân nộp thừa.

Tập tin đính kèm:
CV4283_Huong dan bu tru PIT.doc [39 KiB]

Lấy lại tiền thuế, cần 18 chữ ký

Một bạn đọc trong ngành tài chính đã phát hiện để hoàn thuế thu nhập cá nhân cho những người có nhiều nguồn thu nhập khác nhau phải cần đến 18 chữ ký.

Trường hợp này rơi vào những cá nhân có thu nhập thấp, có nguồn thu nhập khác nhau, làm việc không có hợp đồng lao động, như sinh viên, công nhân xây dựng, cộng tác viết báo...

Khổ cho người thu nhập thấp

Hiện nay, cách quản lý thuế đối với những người có hợp đồng lao động, làm việc tại một nơi là tương đối hợp lý. Thế nhưng, với người làm việc ở nhiều nơi, không có chỗ làm việc nhất định thì khá phức tạp. Do chưa rõ họ có thu nhập đến mức chịu thuế hay không, nhưng để tránh thất thu thuế, Bộ Tài chính quy định cứ mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng những người này đều bị tạm khấu trừ 10%. Cuối năm, nếu người đó chưa đến ngưỡng phải nộp thuế (4 triệu đồng/tháng, 48 triệu đồng/năm), lúc này họ phải đến cơ quan thuế để lấy lại tiền.

Cách tạm khấu trừ này không có lợi cho những người phải nuôi người thân (con, bố mẹ, vợ/chồng mất sức lao động). Theo Luật thuế thu nhập cá nhân, khi phải nuôi người thân, người nộp thuế được giảm trừ một khoản tương ứng với 1,6 triệu đồng/người/tháng. Thế nhưng, họ cũng không được tính phần này vào mà cứ trừ đủ 10% trong mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng.

Cơ quan thuế giải thích rằng chỉ là tạm thu, cuối năm khi quyết toán sẽ được hoàn lại. Như vậy, một khoản thu nhập lẽ ra dùng để nuôi dưỡng người thân lại bị “chiếm dụng”, cuối năm mới được lấy lại với quy trình hoàn thuế 18 chữ ký. Khá nhiều hồ sơ đề nghị hoàn thuế tại Cục Thuế TP.HCM chỉ có thu nhập ở mức 2,5-4 triệu đồng/tháng, tức 30-50 triệu đồng/năm nhưng vẫn bị khấu trừ thuế.

Với quy trình hoàn thuế khá chặt chẽ như hiện nay, 300 hồ sơ hoàn thuế mà Cục Thuế TP.HCM đã giải quyết trong thời gian qua phải cần đến 5.400 chữ ký, trong đó lãnh đạo Cục Thuế TP.HCM phải ký 1.800 lần, lãnh đạo phòng thuế thu nhập cá nhân khoảng 3.000 chữ ký. Hiện có hơn 1.000 hồ sơ đề nghị hoàn thuế và để giải quyết cần đến 18.000 chữ ký. Trong đó, lãnh đạo cục phải ký tối thiểu 6.000 lần.

Theo quy định, khi tiếp nhận hồ sơ cơ quan thuế phải giải quyết hoàn thuế sau 15 ngày làm việc. Tuy nhiên với số lượng hồ sơ xin hoàn thuế lớn như trên và có khả năng tăng thêm trong thời gian tới, cơ quan thuế cho biết khó bảo đảm giải quyết cho người dân đúng hạn.

Hồ sơ hoàn thuế phải qua 18 chữ ký

Phòng thuế thu nhập cá nhân

Pháp chế

Lãnh đạo Cục Thuế

Cán bộ
trực tiếp giải quyết

Phó phòng

Trưởng phòng

Cán bộ thẩm định

Trưởng phòng

2

7

1

1

1

6

Quy định về khấu trừ thuế của cá nhân

Ðiều kiện

Quy định khai và tính thuế

Cá nhân có hợp đồng lao động

Hằng tháng giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc, tạm nộp thuế, cuối năm quyết toán.

Cá nhân có hợp đồng lao động và có làm thêm ở nơi khác

Tương tự như trên, nhưng phần thu nhập ở nơi làm thêm phải tạm nộp 10% mỗi lần nhận thu nhập trên 500.000 đồng, cuối năm quyết toán.

Cá nhân không có hợp đồng lao động (sinh viên, công nhân xây dựng...)

Tạm nộp 10% trên mỗi lần nhận thu nhập trên
500.000 đồng, cuối năm quyết toán mới được giảm trừ gia cảnh.

Hoàn thuế bớt phải đi lại

Trong khi đó, ngày 8-4, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã có văn bản để giải quyết tình trạng người được hoàn thuế thu nhập cá nhân phải đi lại nhiều lần. Quy định này áp dụng cho những người làm công ăn lương ở một nơi duy nhất. Theo đó, đơn vị trả thu nhập sau khi quyết toán thuế thu nhập, được bù trừ số thuế của cá nhân nộp thừa với số thuế của cá nhân nộp thiếu. Như vậy, việc hoàn thuế sẽ được chuyển về cho cơ quan chi trả chứ không như trước là sau khi quyết toán thuế, người được hoàn thuế phải tự mang hồ sơ đến cơ quan thuế để lấy lại tiền thuế.

Nên nâng mức khởi điểm khấu trừ

Theo các chuyên gia tài chính, để giảm bớt rắc rối cho người lao động có thu nhập ở nhiều nơi, nên nâng mức khởi điểm khấu trừ 10% khi nhận thu nhập lên 1 triệu đồng, thay vì 500.000 đồng/lần như hiện nay. Mức khấu trừ cao hơn sẽ hạn chế tối đa tình trạng khấu trừ thuế của cả người có thu nhập thấp.

Với trường hợp ở đơn vị chỉ có người nộp thừa thì đơn vị chi trả ứng trước tiền để hoàn thuế cho người lao động và quyết toán sau với cơ quan thuế. Ngược lại chỉ có người nộp thiếu thì khấu trừ số thuế thiếu và nộp vào ngân sách.

Nếu số thuế của người nộp thừa lớn hơn thuế của người nộp thiếu thì đơn vị chi trả thu nhập khấu trừ thuế của người nộp thiếu, đồng thời ứng trước số tiền phải hoàn thuế từ ngân sách nhà nước để hoàn trả cho người nộp thừa. Ngược lại thì khấu trừ số thuế nộp thiếu để trả cho người nộp thừa, số thuế còn lại nộp vào ngân sách.

Trường hợp số thuế của người lao động nộp thừa bằng với tổng số thuế của người nộp thiếu thì tổ chức chi trả thu nhập khấu trừ số thuế của người nộp thiếu để trả cho người nộp thừa.

Thời hạn hoàn thuế là năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ quyết toán thuế của cơ quan chi trả thu nhập.

Thời gian qua do chưa được phép bù trừ nên trường hợp người lao động đã tạm nộp dư cơ quan chi trả chỉ cấp chứng từ khấu trừ và người lao động phải tự liên hệ với cơ quan thuế để làm thủ tục hoàn thuế.

Theo A.Hồng/TT

Nghị định 28/2010/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung

Ngày 25/3/2010, Thủ tướng chính phủ đã ký Nghị định 28/2010/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu chung. Theo đó, từ ngày 1/5/2010, mức lương tối thiểu chung sẽ là 730.000 đồng/tháng, tăng thêm 80.000 so với mức hiện nay; đồng thời lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng cũng sẽ tăng thêm 12,3%


Mức lương này được áp dụng đối với Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Căn cứ theo Nghị định, kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu mới sẽ được đảm bảo từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vào tính chất của cơ quan đơn vị. Cụ thể đối với cơ quan hành chính sẽ từ 10% tiết kiệm chi thường xuyên; đối với các đơn vị sự nghiệp và cơ quan hành chính có thu sẽ từ 40% số thu được để lại. Ngoài ra, Ngân sách trung ương cũng hỗ trợ những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn với mức bình quân 2/3 so với mức lương tối thiểu chung đối với người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ở thôn và tổ dân phố.


Nghị định 28/2010/NĐ-CP là một sự điều chỉnh cần thiết và kịp thời để đảm bảo thu nhập cho công chức, viên chức trong điều kiện giá các mặt hàng tiêu dùng đang có sự biến động như hiện nay./.

Nội dung Nghị định:

CHÍNH PHỦ
Số: 28/2010/NĐ-CP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2010

NGHỊ ĐỊNH
Quy định mức lương tối thiểu chung
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2006 - 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 là 730.000 đồng/tháng.
Điều 2. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với:
1. Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
2. Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;
3. Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;
4. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
Điều 3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở:
1. Tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điều 2 Nghị định này.
2. Tính trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 trở đi đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.
3. Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng tính theo lương tối thiểu chung.
Điều 4. Kinh phí thực hiện mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này đối với các đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm từ các nguồn:
1. Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) đối với từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ. Riêng các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu để lại theo chế độ (sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế).
3. Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính có thu.
4. Sử dụng 50% số tăng thu ngân sách địa phương.
5. Ngân sách trung ương bảo đảm:
a) Bổ sung nguồn kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu chung trong trường hợp các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện đúng các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này nhưng vẫn còn thiếu;
b) Hỗ trợ những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn với mức bình quân 2/3 so với mức lương tối thiểu chung đối với người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ở thôn và tổ dân phố được xác định theo đúng quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ.
Điều 5. Kinh phí khi thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với người lao động làm việc trong các công ty quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2 do công ty bảo đảm và được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí sản xuất kinh doanh.
Điều 6. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động và Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung cho từng thời kỳ; hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với các công ty quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2 Nghị định này; hướng dẫn tính trợ cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này đối với người lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007.
2. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định này.
3. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm:
a) Hướng dẫn việc tính toán, cân đối nguồn kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu chung theo quy định tại Điều 4 Nghị định này;
b) Thẩm định và bổ sung kinh phí thực hiện mức lương tối thiểu chung cho các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định này và bảo đảm nguồn bổ sung có mục tiêu đối với những địa phương khó khăn theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 4 Nghị định này và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
Điều 7. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2010.
Các quy định nêu tại Nghị định này được tính hưởng từ ngày 01 tháng 5 năm 2010.
2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung.
3. Thay thế khoản 1 Điều 3 Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động như sau:
“1. Doanh nghiệp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Nghị định này áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính đơn giá tiền lương.
Đối với doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 206/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương, thu nhập trong các công ty nhà nước thì được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá 1,1 lần so với mức lương tối thiểu chung; trường hợp bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 206/2004/NĐ-CP và có lợi nhuận kế hoạch cao hơn từ 5% trở lên so với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề thì áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa không quá 1,7 lần so với mức lương tối thiểu chung để tính đơn giá tiền lương”.
Điều 8. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

Ngân hàng đầu tiên vượt rào lãi suất huy động

Với biểu lãi suất Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) công bố hôm qua, lần đầu tiên sau hơn một năm, thị trường ngân hàng có mức lãi suất huy động chính thức trên 10,5%.

Kể từ 13/4, lãi suất huy động cao nhất tại ACB lên tới 11,6% một năm, áp dụng cho khách gửi từ 10 tỷ đồng trở lên, với kỳ hạn 36 tháng và lãi suất thả nổi 12 tháng (12 tháng điều chỉnh lãi suất một lần phù hợp với diễn biến thị trường). Với loại hình tiết kiệm này, khách gửi tiền sẽ được lợi nếu lãi suất có xu hướng tăng trong tương lai và ngược lại.

Mức đỉnh 11,6% cũng áp dụng cho loại hình tiết kiệm thông thường, khi khách gửi trên 10 tỷ đồng, kỳ hạn 13 tháng và lĩnh lãi cuối kỳ.

Đáng chú ý, với loại hình tiết kiệm thông thường, lãi suất kỳ hạn một tháng trở lên đều dâng trên mốc 10,5% một năm. Với kỳ hạn trên 3 tháng đến 13 tháng, nếu khách lĩnh lãi cuối kỳ sẽ hưởng lãi suất trên 11%. Hai kỳ hạn còn lại (24 và 36 tháng), lãi suất gần bằng nhau và thấp hơn kỳ hạn 13 tháng.

Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời  gian tới. Ảnh: Hoàng Hà
Lãi suất ngân hàng sẽ còn diễn biến bất ngờ trong thời gian tới. Ảnh: Hoàng Hà

Đây là lần đầu tiên sau hơn một năm, lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng chính thức lên trên 10,5%. Tháng 2/2009, lãi suất cơ bản giảm từ mức 8,5% xuống còn 7% một năm. Theo quy định lãi suất kinh doanh của các ngân hàng không vượt 150% lãi suất cơ bản, nên lúc đó lãi suất huy động bị khống chế dưới 10,5%.

Đến tháng 12/2009, lãi suất cơ bản tăng trở lại, lên mức 8% một năm, song để đảm bảo ổn định lãi suất cho vay, các ngân hàng được khuyến cáo tiếp tục huy động dưới 10,5%. Tuy nhiên, do áp lực cạnh tranh hút vốn, ngoài lãi suất niêm yết công khai dưới 10,5%, phần lớn các ngân hàng đều khuyến mãi, thưởng thêm và đẩy lãi suất thực trả cho khách lên cao hơn quy định.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước chủ trương tự do hóa lãi suất, cho phép các ngân hàng tự thỏa thuận lãi suất cho vay với khách hàng, thay vì bị khống chế bởi quy định không vượt 150% lãi suất cơ bản. Các ngân hàng cũng đề nghị dỡ trần lãi suất huy động 10,5%, thay vào đó sẽ xóa bỏ khuyến mãi và dần hình thành mặt bằng lãi suất theo cung cầu thị trường.

Một ngày sau quyết định gây sốc của ACB, chưa ngân hàng nào tuyên bố thay biểu lãi suất huy động. Bà Cao Thúy Nga, Phó tổng giám đốc Ngân hàng cổ phần Quân đội (MB) cho biết sẽ cân nhắc điều chỉnh nếu trần lãi suất huy động trên thị trường được dỡ bỏ. Tuy nhiên theo bà Nga, mức tăng sẽ không lớn và cũng chưa tiến hành ngay bởi thanh khoản của ngân hàng hiện ổn định, nguồn vốn huy động đang tăng khá, đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng.

Tại cuộc gặp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gần đây, các ngân hàng lớn cho biết sẽ ngừng khuyến mãi và ổn định lãi suất huy động ở mức 11-12%, sau đó giảm dần để bớt sức ép với lãi suất cho vay.


(Theo Vnexpress)

Tuesday, 22 December 2009

Chênh lệch định giá lại tài sản phải chịu thuế

Xem hình

Đây là một trong những quy định tại dự thảo Thông tư hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản mà đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến.

Theo đó,với DN ghi nhận chênh lệch giá trị tài sản khi cổ phần hóa, phần chênh lệch giá trị tài sản được ghi tăng vào phần vốn nhà nước và được ghi nhận tính khấu hao; Với trường hợp định giá lại tài sản để góp vốn, chia tách, sáp nhập… thì khoản chênh lệch sẽ được ghi nhận dần vào lợi nhuận khác của DN góp vốn theo thời gian khấu hao của đơn vị nhận góp vốn và chịu thuế thu nhập DN.

Riêng trường hợp định giá lại giá trị sử dụng đất để góp vốn, điều chuyển, chia tách, sáp nhập… thì sẽ chia ra 2 trường hợp:

- Với quyền sử dụng đất có thời hạn thì việc ghi nhận lợi nhuận, tính thuế phần chênh lệch giá trị sử dụng đất được tính như trường hợp góp vốn bằng tài sản thông thường.Với trường hợp đất góp vốn là đất có quyền sử dụng lâu dài, hoặc khi đó, DN nhận góp vốn không trích khấu hao với giá trị quyền sử dụng đất, DN góp vốn sẽ không phải chịu thuế TNDN với phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất.

- Với chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất khi góp vốn để đầu tư xây dựng với mục đích bán, thì sẽ phải tính vào thu nhập khác và chịu thuế thu nhập DN.



Theo thuvienphapluat

“1001” chiêu lách thuế nhà, đất

Xem hình

Sau một thời gian ngắn thực thi Thuế thu nhập cá nhân đánh vào chuyển nhượng bất động sản, hàng loạt chiêu thức lách thuế đã được phát hiện.
Các trường hợp lách thuế, cơ quan thuế đều biết. Tuy nhiên, để xử lý hoặc chỉ nhẹ nhàng là “bắt bẻ” thôi cũng... chịu!?
“Đi vòng” lách thuế

Công khai, minh bạch giảm bớt thủ tục hành chính sẽ góp phần giảm thiểu gian lận thuế. Ảnh chỉ mang tính minh họa


Theo Thông tư 84, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thì các thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; giữa ông bà, cha mẹ với con, cháu và giữa anh chị em ruột với nhau sẽ được miễn thuế. Tuy nhiên, Thông tư lại không cho miễn thuế với trường hợp chị dâu với em chồng, anh rể em vợ... Theo các cơ quan thuế địa phương, quy định này không chỉ gây phiền hà cho người dân mà còn làm khó khăn thêm nhiều cho cơ quan quản lý. Có những trường hợp, anh chị em ruột cho nhau thật nhưng nếu làm đúng quy định vẫn phải mất thuế chuyển nhượng. Khi đó người dân lại tìm mọi cách để “lách” luật.

Ông Lê Tuấn Đỏ, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế Hà Đông (Hà Nội) lấy ví dụ: “Chẳng hạn, tôi cho em trai tôi một mảnh đất trị giá 1,5 tỷ đồng. Nếu mảnh đất đó đứng tên vợ chồng tôi thì theo quy định, chị dâu cho em chồng không được miễn thuế nên em trai tôi vẫn phải đóng thuế thu nhập cho khoản “quà tặng” là 74 triệu đồng”. Thực tế, trong trường hợp này, nếu làm hợp đồng bán lại cho “em trai” thì khoản thuế thu nhập phải chịu còn... thấp hơn là hợp đồng cho tặng, bởi người bán chỉ phải nộp 15 triệu đồng. “Đây là một điểm bất cập. Nó cũng không đúng với phong tục tập quán của Việt Nam”, ông Đỏ nói.

Tuy nhiên đấy chỉ là trên lý thuyết còn thực tế thì người ta có thể đi “vòng” để lách thuế dễ dàng trong trường hợp này. Ông Đỏ nói tiếp: “Trong trường hợp này tôi bảo vợ tôi làm thủ tục tặng tôi thì không phải nộp thuế. Sau đó tôi làm thủ tục tặng cho em tôi thì cũng không phải nộp. Hoặc có cách khác, vợ chồng tôi làm thủ tục tặng bố mẹ tôi. Sau đó bố mẹ tôi làm thủ tục cho em tôi, tức là cho con ruột thì trường hợp này thậm chí còn không phải nộp thuế trước bạ”. Theo ông Đỏ, quy định này vô tình bắt buộc người dân phải đi đường vòng, gây áp lực cho cơ quan công quyền. Kết quả cuối cùng cơ quan thuế vẫn không thu được thuế. Trong khi cơ quan thuế phải mất thêm chi phí thời gian, vật chất, nhân lực để phục vụ. “Chưa kể nó lại là một kẽ hở cho những người chuyên môn nghiên cứu cái này, đi làm “cò” để ăn chặn cho người dân”, ông Đỏ phân tích.

Khai man... 1 nhà

Bà Nguyễn Thị Xuyên, Đội trưởng đội Thuế trước bạ và thu khác (nhà đất), Chi cục thuế quận Cầu Giấy (Hà Nội) lại đưa ra một trường hợp khác, đó là trường hợp miễn thuế cho cá nhân chuyển nhượng chỉ có 1 nhà ở. Tại Thông tư 84 quy định miễn thuế cho trường hợp: “Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”. Theo bà Xuyên, Thông tư quy định như vậy, nhưng khi cơ quan thuế địa phương thực hiện, thì rất khó khăn vì tiêu chí xác định “1 nhà” không rõ ràng. Đây vô tình cũng lại là một lỗ hổng để người dân “lách” thuế. Nhiều cơ quan thuế địa phương thừa nhận, khó có thể rà soát trường hợp này vì về nguyên tắc, người dân sẽ tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về kê khai “1 nhà” duy nhất của mình.

Bà Vũ Thị Mai, Cục trưởng Cục thuế Hà Nội nói: “Về nguyên tắc kê khai thuế là người dân tự khai và tự chịu trách nhiệm”. Tuy nhiên, thực tế cũng khó có cách nào để xác minh lại các trường hợp kê khai này. Ông Lê Tuấn Đỏ, chia sẻ cách làm của cơ quan mình. Ông nói: “Giả sử anh có hộ khẩu ở 65 Quang Trung, Hà Đông, anh lại có 1 cái nhà chung cư ở Văn Quán cần bán, anh kê khai anh có 1 nhà duy nhất để không phải nộp thuế. Tôi sẽ yêu cầu anh phô-tô cho tôi sổ hộ khẩu và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở chỗ đó. Nếu anh có tên trong sổ hộ khẩu ở 65 Quang Trung, Hà Đông và giấy chứng nhận nhà không đứng tên anh thì thuế phải chấp nhận trường hợp này vì anh có 1 nhà”.

Ông Đỏ cũng thừa nhận, cách quản lý này là ở phần ngọn song cơ quan thuế chỉ có thể làm được đến mức độ đó. “Người ta cứ khai tự chịu trách nhiệm, cơ quan thuế không có chức năng đi thanh tra. Người ta cứ khai đó là tài sản duy nhất là mình phải miễn cho người ta”, ông Đỏ nói.

25% hay 2% đều “lách” tuốt!

Theo Thông tư 84, để tính thuế thu nhập với chuyển nhượng bất động sản, trường hợp có đầy đủ giấy tờ chứng nhận chi phí mua ban đầu và giá bán thì sẽ tính với mức thuế suất 25% trên phần chênh lệch giữa giá bán và giá gốc. Trường hợp không xác định được các chi phí liên quan thì tính thuế 2% trên tổng giá trị hợp đồng chuyển nhượng. Vậy là rộ lên chuyện “lách luật” bằng cách kể cả trường hợp có đủ giấy tờ xác minh chi phí mua, bán vẫn cố tình tính thuế theo thuế suất 2% nếu tính toán thấy cách đó có lợi hơn. Ông Nguyễn Hữu Hùng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận Cầu Giấy (Hà Nội) cho biết: “Đến nay 99% các hồ sơ nộp tại địa bàn đều tính theo mức thuế suất 2%. Rất ít hồ sơ tính theo cách 25%”.

Trong nhiều trường hợp, cách tính thuế 25% trên chênh lệch giá mua và giá gốc thì số thuế phải nộp sẽ lớn hơn nhiều so với cách tính thuế trên 2% giá mua. Tuy nhiên, theo những ghi nhận mới đây, thì với cả cách tính thuế trên 25% giá mua và giá gốc người ta cũng có cách “lách” thuế. Đó là người mua và người bán, bắt tay nhau khai man giá trị hợp đồng. Ông Đỏ lấy ví dụ: “Chẳng hạn, một căn hộ mua ở Văn Quán có giá vốn xác định, có phiếu thu 1 tỷ, có biên lai nộp phí trước bạ 5 triệu, cộng một số chi phí khác hợp thành giá vốn. Sau đó thực tế người ta bán 5 tỷ, nhưng người ta chỉ kê khai giá bán bằng hoặc xấp xỉ giá gốc thì mình cũng chịu”. Trường hợp này, mức thu thuế thậm chí còn thấp hơn nhiều nếu tính theo cách 2%. Ở quận này có nhiều trường hợp nộp thuế với 25%, chủ yếu là các giao dịch tại chung cư, khu đô thị, các dự án xây nhà ở để bán. Khi có đủ chứng từ gốc, kê khai đủ thì cơ quan thuế sẽ phải tính cho họ theo thuế suất 25%.

Ông Đỏ phân tích, quy định giá thực tế là giá ghi trên hợp đồng. Nhưng giá ghi trên hợp đồng có thực là giá chuyển nhượng hay không thì rất khó xác định, còn gây nhiều tranh cãi. Luật có khoản ràng buộc là nếu giá chuyển nhượng thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định thì theo giá của tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, thực tế giá của thành phố quy định thường thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế nên ràng buộc này cũng thành vô hiệu. “Chẳng hạn, giá thành phố quy định tại Hà Đông nhiều nơi chỉ có 1,5 triệu đồng/m2, nhưng giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường lên đến 20-30 triệu đồng/m2. Khi đó người ta kê khai chỉ cần nhích lên một ít thôi so với giá bán thì cơ quan thuế cũng không bắt bẻ được rồi”, ông Đỏ nói.

Trong một xã hội sử dụng tiền mặt như ở nước ta hiện nay thì việc thất thoát thuế là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sự thất thoát lại nảy sinh từ chính từ những chính sách bất hợp lý.


Theo thuvienphapluat

Thuế nhà, đất đã bị thất thu như thế nào? Thông tư ngành thuế, thuế không... "thông"

Xem hình

Thông tư 161 của Bộ Tài chính có một nội dung khiến người dân, doanh nghiệp và cả cơ quan thuế địa phương đều “gặp khó”. Đó là việc thu thuế thu nhập cá nhân với hoạt động chuyển nhượng vốn góp. Từ đây, cũng đã lộ ra không ít kẽ hở gây thất thu thuế nhiều năm qua. Tại các nước phát triển, thu ngân sách từ bất động sản hàng năm có thể chiếm tới 30-40%. Tại Việt Nam thu từ nhà, đất hiện nay chiếm khoảng 10% tổng thu. Trong khi, giá bất động sản tại các đô thị lớn của nước ta lại thuộc hạng cao so với thế giới. Vậy thì các khoản lợi nhuận từ bất động sản rơi vào túi ai? Qua khảo sát, chúng tôi phát hiện ra những nghịch lý gây nên tình trạng thất thu này.

“Bó tay” với chuyển nhượng vốn góp

Thông tư 161/2009, bổ sung cho Thông tư 84/2008 hướng dẫn việc thu thuế thu nhập cá nhân với chuyển nhượng bất động sản. Trong đó có một nội dung quan trọng là thu thuế với cả trường hợp “góp vốn để hưởng quyền mua căn hộ, mua nền nhà”. Tại khoản 4, điều 3 quy định về nghĩa vụ khai, nộp thuế ghi: “Trường hợp cá nhân góp vốn với các tổ chức, cá nhân xây dựng nhà để hưởng quyền mua căn hộ, mua nền nhà nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng lại chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân khác phần vốn và quyền mua nền, căn hộ thì thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản”.

Ông Lê Tuấn Đỏ, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận Hà Đông (Hà Nội) cho biết, sau khi Nhà nước “cấm mua nhà trên giấy”, buộc các dự án chỉ bán nhà khi đã có cơ sở hạ tầng thì các chủ đầu tư nghĩ ra cách “lách luật” là huy động vốn dưới dạng vốn góp theo... tiến độ. Những người góp vốn này sẽ hưởng quyền mua căn hộ, đất nền tại dự án đã góp vốn theo thoả thuận với chủ đầu tư.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay người góp vốn có thể bán lại “quyền mua” của mình cho nhà đầu tư thứ cấp khi dự án còn trong giai đoạn thi công, từ đó nảy sinh hoạt động “chuyển nhượng vốn góp”. “Với Thông tư 161, hoạt động chuyển nhượng vốn góp sẽ bị kiểm soát, khoản lợi nhuận thu được từ việc chuyển nhượng vốn góp sẽ bị tính thuế thu nhập cá nhân như chuyển nhượng bất động sản”, ông Đỏ nói.

Vậy nhưng, thực tế thì sao? Ông Nguyễn Hữu Hùng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận Cầu Giấy (Hà Nội) cho biết, việc chuyển nhượng quyền mua bán diễn ra khá phổ biến. Tức là trong quá trình dự án đang triển khai thì người góp vốn có thể chuyển nhượng cho các nhà đầu tư cấp 2, 3... quyền mua căn hộ, đất nền tại dự án họ đã góp vốn. Với các trường hợp này, hiện nay, cơ quan thuế vẫn “bó tay”, chưa tìm ra cách nào hữu hiệu để kiểm soát.

Đặc biệt, tại Điều 2, Khoản 1 còn quy định: “Phải truy nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản khi góp vốn vào doanh nghiệp”. Theo giải thích của ông Đỏ, với cá nhân, tổ chức góp vốn vào dự án bằng bất động sản, khi phát sinh hoạt động chuyển nhượng, bên cạnh khoản thuế thu nhập tính trên chênh lệch giá trị chuyển nhượng. Cơ quan thuế sẽ truy thu cả phần giá trị tài sản cá nhân, tổ chức đã góp vốn ban đầu vào dự án theo dạng chuyển nhượng bất động sản.

Lúng túng cả người thu lẫn người nộp

Sau gần 3 tháng Thông tư 161 có hiệu lực, tại Chi cục Thuế quận Hà Đông đã có 43 trường hợp đến cơ quan thuế kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân cho hoạt động chuyển nhượng vốn góp với tổng số tiền thu được là trên 472,5 triệu đồng. Tuy nhiên, con số này không phải là lớn nếu so với khoảng trên 40 dự án với hàng nghìn căn hộ, suất đất nền đang thực hiện trên địa bàn quận Hà Đông?

Dù vậy, theo ghi nhận của PV Báo GĐ&XH thì đây là một trong những đơn vị đã làm tốt việc thu loại thuế chuyển nhượng hợp đồng vốn góp cực kỳ khó khăn này. Còn tại nhiều chi cục thuế khác ở Hà Nội đây là “điệp vụ bất khả thi”. Cụ thể, ông Nguyễn Hữu Hùng, Phó Chi cục trưởng Chi cục thuế Cầu Giấy cho biết, tại Chi cục cũng có một vài trường hợp hỏi về thuế với hợp đồng góp vốn song “đến nay Chi cục vẫn chưa nhận được một hồ sơ nào cho loại chuyển nhượng này”!

Hiện nay theo cơ chế một cửa, với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, cá nhân, tổ chức sẽ nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất và nhà ở quận sở tại. Từ đây văn phòng sẽ tập hợp hồ sơ và chuyển sang cơ quan thuế để tính thuế. Tuy nhiên, với hoạt động chuyển nhượng quyền góp vốn, do đây chưa phải là tài sản bất động sản nên thực tế đã gây nhiều lúng túng cho cả người dân, doanh nghiệp và cơ quan thuế, khi người dân không biết nộp hồ sơ ở đâu, quy trình thế nào?

Một cán bộ tại Chi cục Thuế Cầu Giấy cũng cho biết, Thông tư 161 khó thực hiện, đặc biệt với trường hợp chuyển nhượng vốn góp. Có nhiều người hỏi nhưng đa số hỏi miệng, còn hiện cơ quan chưa tiếp nhận hồ sơ cụ thể nào. “Các doanh nghiệp đang vướng và kể cả cơ quan thuế cũng vướng, nhất là về hồ sơ và trình tự”, bà này nói. Ông Đỏ cho biết: “Chúng tôi cũng đã tính đến rắc rối này. Chi cục đã phân loại rõ ràng, với trường hợp chuyển nhượng bất động sản có hồ sơ đầy đủ sẽ qua Văn phòng đăng ký đất và nhà theo cơ chế một cửa. Riêng với trường hợp chuyển nhượng vốn góp thì Chi cục sẽ trực tiếp tiếp nhận và xử lý để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế”.

Theo ông Hùng việc chuyển nhượng vốn góp diễn ra khá phổ biến trong thực tế, tuy nhiên, để quản lý và thu thuế từ hoạt động này thì không hề dễ. “Theo tôi biết, Cục thuế Hà Nội đang xây dựng phương án, để quản lý trên toàn địa bàn thành phố. Cái đó “lọt khe” đối tượng rất nhiều với hoạt động mua đi bán lại trao tay”, ông Hùng nói. Ngay ông Đỏ cũng thừa nhận: “Việc này đơn phương ngành thuế làm rất khó. Vì trong nhiều trường hợp cơ quan thuế không có chức năng thanh, kiểm tra, nên lọt lưới là rất dễ xảy ra”.

Thông tư 161, có thể xem là biện pháp chống thất thu một khoản thuế lớn nhà, đất từ hoạt động chuyển nhượng vốn góp. Nhưng từ đây cũng đặt ra câu hỏi, vậy đã có bao nhiêu tiền thuế đã bị thất thu trong 3 năm qua, kể từ khi nảy sinh chiêu thức huy động vốn dưới dạng “hợp đồng góp vốn”?.


Theo thuvienphapluat