Monday, 30 November 2009

Khủng hoảng nợ Dubai World bớt căng thẳng

Công nhân đang xây dựng công trình bên cạnh tòa nhà cao nhất thế giới Burj Dubai, tại Dubai, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) Ảnh: AP.

Dubai World đã bắt đầu đàm phán tái cơ cấu nợ, nhưng chính quyền Dubai khẳng định sẽ không bảo lãnh cho nợ của tập đoàn này
Tập đoàn Dubai World - trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ Dubai - cho hay, họ đã bắt đầu đàm phán với các chủ nợ nhằm tái cơ cấu lại số nợ 26 tỷ USD trong tổng số nợ 59 tỷ USD. Thông tin này đã giúp xoa dịu những căng thẳng trước đó trên thị trường về nguy cơ vỡ nợ của tập đoàn này.

Cũng trong ngày 30/11, chính quyền Dubai tuyên bố họ không chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của Dubai World. Động thái này bị coi là một đòn giáng mạnh vào các chủ nợ vốn vẫn giữ niềm tin rằng, tiểu vương quốc này sẽ bảo lãnh cho các khoản nợ mà tập đoàn quốc doanh Dubai World đang gánh.

“Các chủ nợ cần lãnh một phần trách nhiệm về quyết định đã cho các công ty của Dubai vay tiền. Họ cứ nghĩ Dubai World là một phần của Chính phủ Dubai, nhưng đây là một suy nghĩ sai lầm”, người đứng đầu cơ quan tài chính của Dubai, ông Abdulrahman al-Saleh, tuyên bố.

Trong một diễn biến trước đó, Dubai World cho biết, các cuộc đàm phán tái cơ cấu nợ giữa họ và các nhà băng đã được khởi động. Những khoản nợ được đưa ra đàm phán sẽ có tổng trị giá 26 tỷ USD, bao gồm cả nợ của Dubai World và một số công ty con đang khó khăn nhất của tập đoàn này, gồm Nakheel và Limitless.

Còn lại, một số công ty con khác của Dubai World như DP World, Jebel Ali Free Zone and Istithmar World sẽ không tham gia vào các cuộc đàm phán này nhờ có tình hình tài chính ổn định.

Việc công bố số nợ cần tái cơ cấu là 26 tỷ USD được giới phân tích xem là một động thái tích cực của Dubai World vì nhờ đó, thị trường mới xác định chính xác quy mô của cuộc khủng hoảng nợ này. Theo nhiều nhà phân tích, trong trường hợp này, 26 tỷ USD không phải là một số nợ quá lớn. Trước đó, nhiều ý kiến vẫn lo ngại rằng, toàn bộ số nợ 59 tỷ USD của Dubai World đều cần được tái cơ cấu.

Như vậy, trong hai ngày qua, các bên liên quan đã có tung ra nhiều biện pháp tích cực nhằm kiểm soát cuộc khủng hoảng nợ của Dubai.

Trong ngày 29/11, Ngân hàng Trung ương Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) cho biết, họ đã bơm vốn khẩn cấp và hứa sẽ hậu thuẫn các nhà băng trước nguy cơ vỡ nợ của tập đoàn này. Chính quyền Abu Dhabi, tiểu vương quốc láng giềng của Dubai, cũng cam kết sẽ hỗ trợ một số doanh nghiệp của Dubai trong trường hợp cần thiết.

Tuy nhiên, các thị trường đã ít nhiều cảm thấy thất vọng khi các nhà chức trách Dubai tuyên bố sẽ không bảo lãnh cho nợ của Dubai World. Ông Saleh, người đứng đầu cơ quan tài chính của Dubai, đã chỉ rõ, mặc dù Dubai World thuộc sở hữu của nhà nước nhưng từ lâu đã hoạt động như một thực thể độc lập và không bao giờ có chuyện được tiểu vương quốc bảo lãnh.

Cũng trong ngày hôm qua, người đứng đầu ủy ban ngân sách của Dubai, ông Dhahi Khalfan Tamim, tuyên bố, Chính phủ tiểu vương quốc này chỉ nợ 10 tỷ USD.

“Chính phủ Dubai chỉ nợ 10 tỷ USD. Mọi người không nên nhầm lẫn giữa nợ của chính phủ với bất kỳ doanh nghiệp nào”, vị quan chức này nói.

Trước đó, giới quan sát vẫn cho rằng, nợ của Chính phủ là 80 tỷ USD, bao gồm cả khoản nợ 59 tỷ USD của Dubai World.

(Theo Reuters, Bloomberg)

Thưởng Tết 2010: Nhiều tín hiệu lạc quan

picture

Các doanh nghiệp phải công khai tiền thưởng Tết muộn nhất vào ngày 20/12 tới.

Doanh nghiệp làm ăn thuận lợi hứa hẹn tiền thưởng Tết năm nay sẽ cao hơn năm ngoái

Ý kiến của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tiền lương và một số doanh nghiệp cho thấy nhiều tín hiệu lạc quan từ nguồn thưởng Tết Canh Dần 2010 sắp tới.

Doanh nghiệp lạc quan

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa có văn bản gửi các sở lao động địa phương, yêu cầu giám sát, báo cáo chi tiết về tình hình lương thưởng cuối năm, đôn đốc các doanh nghiệp phải công khai tiền thưởng Tết muộn nhất là vào ngày 20/12 tới.

Khác với năm ngoái, năm nay phần lớn các doanh nghiệp tỏ ra khá thoải mái khi được hỏi về kế hoạch lương thưởng cuối năm. Đại diện một số doanh nghiệp cho cho biết, khủng hoảng kinh tế đã không mấy ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong năm nay. Đặc biệt, tình hình có nhiều thuận lợi trong những tháng cuối năm, vì thế thưởng Tết cho nhân viên chắc chắn khả quan.

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Tiền lương - Tiền công (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho biết, đến thời điểm này mặc dù Bộ chưa có thông tin chính thức nào, nhưng căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp, có thể dự đoán, mức thưởng Tết năm nay sẽ cao hơn năm ngoái.

Nhìn chung, phần lớn các doanh nghiệp đã phục hồi sau khủng hoảng, bằng chứng là nhiều doanh nghiệp đã ồ ạt tuyển lao động trong những tháng cuối năm. Khi việc nhiều, công nhân có việc làm thêm, doanh nghiệp liên tục tăng ca, sản phẩm tiêu thụ mạnh, hiển nhiên tiền thưởng sẽ được trả xứng đáng.

Ngoài ra, theo bà Minh, lương thưởng còn là một trong những chiến lược phát triển của nhiều doanh nghiệp. Đây là một trong những bí quyết giúp doanh nghiệp giữ chân người tài, khuyến khích, động viên lao động từ đó họ có thêm động lực làm việc.

Trao đổi với VnEconomy, giám đốc một doanh nghiệp chế biến nông sản cho rằng, nếu như hồi Tết Kỷ Sửu, doanh nghiệp và người lao động bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì năm nay, kinh tế đã phục hồi nhanh hơn dự báo. Bản thân doanh nghiệp này cũng đã nhận được rất nhiều đơn hàng từ tháng 5/2009 và doanh thu những tháng cuối năm khá cao, vì thế không có lý do gì mà không thưởng lớn để động viên nhân viên cả!

Bất động sản, tài chính, ngân hàng “đột phá”?

Theo ông Đặng Quang Điều, Phó trưởng ban Chính sách kinh tế - xã hội của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Tết 2009, mức thưởng cao nhất thuộc một doanh nghiệp ngành tư vấn luật ở Tp.HCM với 330 triệu đồng. Năm nay, có thể sẽ có “đột phá” từ ngành bất động sản. Đây là ngành “hái ra tiền” nhất của năm 2009, đặc biệt là những tháng cuối năm.

Ngân hàng, tài chính cũng sẽ là những ngành có mức thưởng bình quân cao do năm nay nhóm này làm ăn thuận lợi. Lợi nhuận của một số ngân hàng tăng cao, nhân viên ngân hàng cũng dự kiến mức thưởng trung bình sẽ khoảng trên 10 triệu đồng/người.

Ngoài ra, cũng có không ít ý kiến đánh giá cao các ngành dịch vụ như viễn thông, du lịch, tư vấn. “Có thể sẽ không có mức thưởng “ngất ngưởng” như mọi năm ở các ngành này nhưng năm nay mặt bằng chung chắc chắn sẽ cao hơn so với năm ngoái”, một chuyên gia của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận xét.

Đối với các ngành sản xuất gia công như dệt may, da giầy, thủy sản, mặc dù không phải là những ngành“ăn nên làm ra” như bất động sản, tài chính nhưng cũng không còn ở vào thế “bí” như năm ngoái, buộc phải cắt giảm nhân công, thắt lưng, buộc bụng để tồn tại.

Một số doanh nghiệp may mặc cho biết, với mức thưởng một tháng lương năm nay với họ là không khó. Năm ngoái, nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành này có mức thưởng Tết chỉ một, hai trăm nghìn đồng

Theo ông Đặng Quang Điều, mức thưởng một tháng luơng cơ bản là mức chung mà phần lớn các doanh nghiệp vẫn thực hiện hàng năm. Với tình hình trượt giá như hiện nay, thưởng một tháng lương là thấp. Tuy nhiên, với lao động một số ngành nghề thì mức đó cũng có thể gọi là “đủ ấm”.

Vàng đứng giá trước tin mới từ Dubai

Sự ổn định của tình hình cung cầu, cộng với giá USD thị trường tự do không còn biến động mạnh, giá vàng trong nước chỉ còn giữ một mức chênh khá hợp lý với giá vàng thế giới - Ảnh: Getty Images.

Giá vàng thế giới phục hồi nhẹ, giữ giá vàng trong nước đứng dưới mức 28,30 triệu đồng/lượng
Giá vàng thế giới phục hồi nhẹ, giữ giá vàng trong nước đứng dưới mức 28,30 triệu đồng/lượng. Trên thị trường thế giới, nguy cơ trượt giá của vàng đang tạm thời được chặn lại sau khi tập đoàn Dubai World của Dubai tuyên bố họ đã bắt đầu đàm phán với các chủ nợ để tái cơ cấu số nợ 26 tỷ USD.

Lúc 10h sáng nay, giá vàng miếng các thương hiệu trong nước đứng phổ biến ở mức 28-28,05 triệu đồng/lượng (mua vào) và 28,20-28,30 triệu đồng/lượng (bán ra). So với sáng qua, giá vàng hiện chưa có thay đổi gì đáng kể. Các mức giá này đã được duy trì trên thị trường vàng vật chất trong nước trong cả ngày hôm qua do giá vàng thế giới ít biến động và tỷ giá USD thị trường tự do ổn định.

Hệ thống Ngân hàng Sacombank ở thời điểm 10h sáng công bố giá vàng miếng SBJ ở mức 28 triệu đồng/lượng (mua vào) và 28,30 triệu đồng/lượng (bán ra). Mức chênh giá mua/bán vàng 300.000 đồng/lượng này đã được Sacombank áp dụng từ sáng qua.

Tại thị trường Hà Nội, vàng SJC giao dịch tại Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý (PQJ) có giá mua vào và bán ra lần lượt là 28,12 triệu đồng/lượng và 28,25 triệu đồng/lượng. Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết trên website doanh nghiệp là 28,13 triệu đồng/lượng 28,19 triệu đồng/lượng.

Tình trạng khác biệt giá vàng niêm yết tại các công ty kim hoàn tiếp tục tồn tại trong sáng nay. Điều này phản ánh độ mức thận trọng khác nhau giữa các doanh nghiệp tại thời điểm mà giá vàng thế giới đang được cho là nhạy cảm.

Theo thông tin từ các doanh nghiệp vàng, giao dịch vàng vật chất trong ngày đầu tuần hôm qua khá trầm. Các nhà đầu tư đang thể hiện rõ sự thận trọng trong mua bán khi giá vàng trong tuần trước liên tục có những diễn biến bất ngờ và còn được dự báo là sẽ có thêm những biến động mạnh trước khi cuộc khủng hoảng nợ ở Dubai có những diễn biến rõ ràng hơn.

Trên các sàn giao dịch vàng sáng nay, các nhà đầu tư đã bớt dè dặt hơn trong phiên giao dịch sáng qua. Trên sàn SBJ, ở thời điểm 10h23 đã có gần 234.000 lượng vàng được chuyển nhượng thành công, với giá khớp lệnh dao động trong khoảng 26-26,34 triệu đồng/lượng.

Tập đoàn Dubai World hôm qua cho biết, họ đã bắt đầu các cuộc đàm phán với các chủ nợ nhằm tái cơ cấu lại số nợ 26 tỷ USD trong tổng số nợ 59 tỷ USD của tập đoàn này. Thông tin này đã đẩy giá các tài sản có độ an toàn cao, trong đó có USD, giảm giá trở lại, còn thị trường chứng khoán Mỹ lên điểm trong phiên giao dịch đêm qua.

Trước đó, đồng USD đã tăng giá và các thị trường chứng khoán mất điểm vì những tin tức bất lợi phát đi từ Dubai.

Tuy nhiên, đồng USD chỉ phục hồi yếu và thị trường chứng khoán Mỹ chỉ tăng điểm nhẹ vì giới đầu tư vẫn chưa hết lo về khả năng diễn biến xấu đi của cuộc khủng hoảng nợ ở quốc gia vùng Vịnh. Tỷ giá USD/Euro sáng nay là hơn 1,50 USD tương đương 1 Euro.

Giá vàng thế giới đêm qua phục hồi nhẹ. Kết thúc phiên giao dịch tại thị trường New York, giá vàng giao ngay tăng 2,2 USD/oz (0,2%), đạt mức 1.180,9 USD/oz.

Tại thị trường châu Á sáng nay, giá vàng biến động nhẹ trong vùng 1.179-1.181 USD/oz. Mức giá này quy đổi theo tỷ giá USD thị trường tự do, cộng thêm thuế nhập khẩu và phí gia công, tương ứng với mức 28,10 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng bán ra trong nước 100.000-200.000 đồng/lượng.

Như vậy, sự ổn định của tình hình cung cầu, cộng với giá USD thị trường tự do không còn biến động mạnh, giá vàng trong nước chỉ còn giữ một mức chênh khá hợp lý với giá vàng thế giới.

Ở thời điểm này, lực mua vào của các nhà đầu tư vàng trên thị trường quốc tế vẫn rất mạnh, tạo ra lực nâng đáng kể cho giá kim loại quý này. Quỹ tín thác vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hôm qua đã mua thêm hơn 2,1 tấn vàng, nâng khối lượng nắm giữ lên gần 1.130 tấn. Trong vòng hơn một nửa tháng qua, quỹ này chỉ có mua vào mà không bán ra.

Cùng với đó, khả năng mất giá thêm của USD vẫn chưa thể loại trừ. Nguy cơ giảm giá thêm của USD gia tăng trong sáng nay, sau khi Ngân hàng Trung ương Australia (RBA)đã nâng lãi suất đồng Đôla Australia thêm 0,25% lên 3,75% trong bối cảnh kinh tế phục hồi. Đây là lần thứ 3 RBA thực hiện nâng lãi suất trong vòng 3 tháng qua.

Tuy nhiên, giới chuyên gia vẫn khuyến cáo các nhà đầu tư cần thận trọng với diễn biến giá vàng cho tới khi nào cuộc khủng hoảng nợ ở Dubai ngã ngũ.

Giá dầu thô thế giới đêm qua phục hồi trước thông tin tích cực từ Dubai. Chốt phiên tại New York, giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 1/2010 tăng 1,23 USD/thùng (1,6%), đóng cửa ở mức 77,28 USD/thùng. Tại thị trường châu Á sáng nay, giá dầu giao dịch ở mức trên 77 USD/thùng.

Chứng khoán sẽ được phép bán ngày T+2?

picture

Việc các công ty chứng khoán cho phép một số khách hàng bán chứng khoán trước ngày T+4 đã khiến nhiều nhà đầu tư bất bình.

Việc rút ngắn thời gian thanh toán giao dịch chứng khoán cần sự nỗ lực từ không chỉ Trung tâm Lưu ký mà còn ở các thành viên thị trường

Ủy ban Chứng khoán đã có yêu cầu tất cả các công ty chứng khoán, kể từ ngày 1/12/2009, phải chấm dứt việc cho phép khách hàng bán chứng khoán trước ngày T+4, hoặc cho khách hàng vay chứng khoán để bán.

Đánh giá về mục đích của quyết định trên, ông Nguyễn Sơn - Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán, nói:

- Ngày 24/11/2009, Ủy ban Chứng khoán ra công văn yêu cầu Trung tâm Lưu ký và công ty chứng khoán tuân thủ quy định giao dịch chứng khoán. Trong khi chờ Bộ Tài chính chính thức ban hành các văn bản hướng dẫn mới về giao dịch chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán yêu cầu tất cả các công ty chứng khoán, kể từ ngày 1/12/2009, chấm dứt việc cho phép khách hàng bán chứng khoán trước ngày T+4, hoặc cho khách hàng vay chứng khoán để bán bởi đây là hành vi bị cấm và chưa được phép.

Chấm dứt kể từ ngày 1/12 cho đến khi có văn bản mới, theo tôi, là việc cần thiết đảm bảo tính công bằng giữa các công ty chứng khoán và giữa các nhóm khách hàng của công ty chứng khoán, kể cả lớn và nhỏ.

Nhưng tại sao quyết định siết lại trật tự này lại phải bắt đầu từ 1/12 mà không phải sớm hơn, thưa ông?

Qua các đợt kiểm tra định kỳ, Ủy ban Chứng khoán cũng đã phát hiện tình trạng một số công ty chứng khoán cho khách hàng bán chứng khoán ngày T+2, T+3, cá biệt có một số công ty cho bán ngày T+1. Theo Luật Chứng khoán, những hành vi này đều không được phép thực hiện.

Trước đây, Ủy ban Chứng khoán đã có văn bản nhắc nhở các công ty chứng khoán thực hiện đúng quy định và thanh tra của Ủy ban vẫn tiến hành kiểm tra định kỳ các giao dịch T+. Trong khi chờ Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn mới về giao dịch chứng khoán thì Uỷ ban yêu cầu các công ty chứng khoán cấm sử dụng điều đó kể từ ngày 1/12.

Như vậy, nhu cầu rút ngắn thời gian thanh toán là có thật và các công ty chứng khoán, dù cách này hay cách khác, hoàn toàn có thể thực hiện được.

Theo ông, việc rút ngắn thời gian thanh toán tại thị trường chứng khoán Việt Nam đã có thể thực hiện được chưa?

Từ thực tiễn yêu cầu của thị trường và với sự đầu tư công nghệ của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, tôi nghĩ đã đến lúc có thể triển khai thực hiện việc rút ngắn thanh toán. Việc chưa có một khung pháp lý quy định như vậy, có thể dẫn đến các công ty tự quy định các loại hình cho khác hàng bán trước chứng khoán, tiềm ẩn rủi ro đối với thị trường, đặc biệt là khi thị trường chứng khoán suy giảm mạnh.

Sau hơn 9 năm đi vào hoạt động, có thể nói đến nay thị trường đã có sự phát triển nhất định. Nhằm từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế thông qua việc nới lỏng các quy định về giao dịch chứng khoán để tăng tính thanh khoản cho thị trường, Ủy ban Chứng khoán đã xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch.

Trong đó, bên cạnh việc bổ sung thêm quy định: cho phép nhà đầu tư được mở nhiều tài khoản giao dịch và một số trường hợp nhà đầu tư được phép mua, bán cùng một loại cổ phiếu trong một ngày giao dịch, Ủy ban Chứng khoán đã đưa vào một điểm mới là: cho phép nhà đầu tư được bán chứng khoán đã mua vào ngày T+2 và T+3, tức là sau thời điểm Trung tâm Lưu ký đối chiếu giao dịch với các thành viên thị trường.

Tuy nhiên, đây mới là dự thảo văn bản hướng dẫn và Ủy ban Chứng khoán đang trình Bộ Tài chính xem xét. Nếu được thông qua thì sẽ được triển khai vào đầu năm 2010.

Để thực hiện việc rút ngắn thời thanh toán, cần những điều kiện gì, thưa ông?

Việc rút ngắn thời gian thanh toán giao dịch chứng khoán cần sự nỗ lực từ các bên, không chỉ Trung tâm Lưu ký chứng khoán mà còn ở chính các thành viên thị trường, đặc biệt là sự sẵn sàng trong chuyển tiền thanh toán các giao dịch.

Cùng với việc rút ngắn thời hạn thanh toán chứng khoán, quy định mới về cho phép bán chứng khoán vào ngày T+2 và T+3 nếu được triển khai áp dụng sẽ tạo nên một bước đột phá về phát triển thị trường, qua đó đẩy mạnh tính thanh khoản của thị trường.

Hiện nay, thời hạn thanh toán bù trừ là T+3, tức là đến 15 giờ chiều ngày T+3, mới hoàn tất quá trình thanh toán và chuyển quyền sở hữu và thời điểm đó nhà đầu tư mới nhận được tiền trên tài khoản khi bán chứng khoán và người mua mới nhận được chứng khoán đã mua ở ngày T và đứng tên sở hữu. Khi rút ngắn thời hạn thanh toán, chứng khoán và tiền sẽ chuyển sang nhận vào buổi sáng.

Một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện việc rút ngắn thời gian thanh toán là hệ thống công nghệ. Với việc đầu tư một hệ thống công nghệ mới và dự kiến triển khai vào cuối năm 2009 của Trung tâm lưu ký, theo tôi có thể thực hiện việc rút ngắn chu kỳ thanh toán giao dịch chứng khoán.

Tuy nhiên, khi rút ngắn chu kỳ thanh toán sẽ gặp một số khó khăn mà đòi hỏi sự nỗ lực với cả các thành viên. Rút ngắn như vậy, trong chu chuyển tiền của các thành viên lưu ký yêu cầu sẽ phải sớm hơn và đây chính là một trong những trở ngại với ngân hàng lưu ký, đặc biệt ngân hàng phục vụ cho khách hàng là nhà đầu tư nước ngoài ở các quốc gia có múi giờ lệch Việt Nam.

Tôi cũng khẳng định rằng hiện nay quy trình thanh toán bù trừ T+3 là quy trình chuẩn mực nhất trên thế giới đang áp dụng.

Mặt khác, khi đưa ra quy định cho phép bán chứng khoán vào ngày T+2, T+3, điều đó cũng có nghĩa là các giao dịch trước ngày T+2 là bất hợp pháp, là trái luật.

Tôi tin là khi đã có hướng dẫn cụ thể, cộng với cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ mới đã có khả năng giám sát đến từng tài khoản khách hàng, việc giám sát và quản lý sẽ hiệu quả hơn.

Muốn khấu trừ, hoàn thuế GTGT phải thanh toán qua ngân hàng-Công văn số 3046/BTC-TCT

Bộ Tài chính nhận được công văn, ý kiến của các Cục thuế và cơ sở kinh doanh hỏi về điều kiện có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Về vấn đề này, căn cứ Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện điểm 1.3.b mục III phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 về thuế GTGT như sau:
1. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành .
2. Các chứng từ sau đây không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên theo quy định tại Thông tư số 129/2008/TT-BTC:
- Chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
- Chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị, cơ sở kinh doanh phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được giải quyết kịp thời./.
Bộ Tài chính Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng cục Thuế Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 2123/TCT-KK

Hà Nội, ngày 1 tháng 6 năm 2009

V/v khấu trừ thuế GTGT

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk

Trả lời công văn số 312/CT-TTHT ngày 11/02/2009 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về việc xin hướng dẫn một số vướng mắc về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 1.3(b), khoản 1, Mục III, Phần B, Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng quy định: "Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hoá đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT; Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hoá đơn trên hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ."

Ngày 20/3/2009, Bộ Tài chính có công văn số 3046/BTC-TCT gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn về việc điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên để được khấu trừ hoàn thuế GTGT. Như vậy, chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, chứng từ không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên là chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán và chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Căn cứ vào các quy định trên:

. . . . . . . . . . . . . . . .

Xem chi tiết tại đây: tập tin đính kèm

Báo cáo tài chính: Cần nhất là sự minh bạch

Việt Nam hiện đã công bố 26 chuẩn mực kế toán trên cơ sở vận dụng có chọn lọc chuẩn mực kế toán quốc tế, nhưng mức độ tuân thủ cũng như cách hiểu lại có nhiều điểm khác nhau. Vì sao lại có tình trạng này và đến khi nào chúng ta có thể hội nhập toàn bộ chuẩn mực kế toán, kiểm toán với quốc tế? ĐTCK đã phỏng vấn PGS.TS Đặng Văn Thanh, Phó chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), Chủ tịch Câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc.

Ông đánh giá thế nào về việc có sự chênh lệch lợi nhuận lên đến hàng chục tỷ đồng giữa BCTC trước và sau kiểm toán của một số DN niêm yết vừa qua?

Theo tôi, khi lập và công bố BCTC, ngoài những công ty thực hiện nghiêm túc và phản ánh đúng thực trạng tài chính thì có hai khả năng (tình huống) xảy ra. Để giảm bớt số lãi thực tế, giảm bớt thuế thu nhập DN phải nộp hoặc quá thận trọng với các diễn biến của thị trường, không ít công ty đã trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá các khoản đầu tư nói chung quá lớn, vượt quá mức cần thiết. Khả năng thứ hai, ngược lại có nhiều công ty trích lập dự phòng giảm giá quá ít so với mức độ giảm giá thực tế của các khoản đầu tư để che dấu tình trạng làm ăn yếu kém, tạo ra bức tranh giả tạo về thực trạng hoạt động của công ty.

Tôi cho rằng, hiện nay ở Việt Nam đã có tương đối đầy đủ quy định mang tính pháp lý và hướng dẫn về trích lập các khoản dự phòng. Tuy nhiên, không ít DN vẫn thực hiện không đúng, không đầy đủ vì nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là ý thức tuân thủ của các công ty, sau nữa là năng lực và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát. Có một thực tế, việc đánh giá, khai thác thông tin trên BCTC của các công ty, kể cả báo cáo nộp cho các cơ quan chức năng (Tài chính, Thuế, UBCK), đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng đã không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Không ít trường hợp BCTC của DN chậm nộp, chậm công bố, công bố không đầy đủ, không chính xác theo quy định vẫn không bị phát hiện hoặc có phát hiện nhưng không có thái độ xử lý đúng mức. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, vẫn còn một số quy định chưa rõ ràng, chưa đúng và còn phức tạp trong nội dung, trong diễn đạt, khiến cho vẫn còn những cách hiểu khác nhau khi thực hiện.



Ông đánh giá thế nào về mức độ tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế mà Việt Nam đã ban hành?

Yêu cầu các DN áp dụng chuẩn mực kế toán đã được đặt ra từ lâu, từ khi bắt đầu công cuộc cải cách kế toán (1994). Nhưng do đặc điểm của cơ chế quản lý ở Việt Nam đã quá quen với thực hiện và tuân thủ các chế độ kế toán, mà chủ yếu lại là các văn bản hướng dẫn chế độ hoặc cụ thể hóa chính sách, chế độ vào từng lĩnh vực, từng ngành nghề cụ thể; trong khi đó, nhiều DN của Việt Nam thuộc sở hữu Nhà nước hoặc DNNN được cổ phần hóa; hơn 90% là DN nhỏ và vừa, nên việc áp dụng chuẩn mức kế toán còn lúng túng và chưa được sự quan tâm đúng mức.

Theo nhìn nhận của tôi thì các DN sẵn sàng nhập cuộc để công khai BCTC chủ yếu là các DN có hoạt động liên doanh, liên kết, DN niêm yết, ngân hàng, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các DN khác có nghiên cứu, áp dụng song song chuẩn mực và chế độ kế toán, nhưng mức độ hiểu biết và sẵn sàng tuân thủ chuẩn mực kế toán chưa cao lắm.



Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, thách thức lớn nhất đối với việc lập và công bố BCTC là gì thưa ông?

Đó là tính minh bạch. Công khai, minh bạch là phương thức hữu hiệu để công chúng, mà trước hết là NĐT có sự nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng của DN, trong đó có thực trạng tài chính. Lâu nay, vấn đề công khai, minh bạch đã được quan tâm, có nhiều quy chế, nhưng chưa có sự ràng buộc thật chặt chẽ về mặt pháp lý, nên rất nhiều trường hợp mới chỉ là công khai và dừng lại ở yêu cầu công khai, trong khi cái cần hơn lại là sự minh bạch. Không ít DN công bố BCTC và các thông tin còn nặng về hình thức, công bố cho có, không đầy đủ, thiếu chi tiết cần thiết và có DN chưa muốn có sự đánh giá đúng mức về thực trạng tài chính của mình.



Ở nhiều nước, các chuẩn mực kế toán do hội nghề nghiệp ban hành, nhưng ở Việt Nam lại do Bộ Tài chính. Điều này có làm giảm tính sát thực của các chuẩn mực đối với từng ngành nghề?

Hiện Bộ Tài chính vẫn là cơ quan quản lý nhà nước về kế toán và thực hiện công bố các chuẩn mực kế toán. Giá trị pháp lý của các quyết định về chuẩn mực kế toán không cao hơn các văn bản pháp luật Nhà nước, nhưng nó mang tính chỉ dẫn và mực thước cho DN lựa chọn trên cơ sở các quy định pháp lý và các chế độ kế toán của Nhà nước. Do đó, cùng với các chuẩn mực kế toán, Việt Nam vẫn có các quy định về chế độ kế toán vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính hướng dẫn dưới hình thức các quyết định, các thông tư do Bộ Tài chính ban hành.

Về lâu dài, để phù hợp với thông lệ quốc tế và cách thức quản lý của nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường mở, cần có sự nhận thức đúng hơn về chuẩn mực kế toán và kiểm toán. Nhà nước ban hành luật pháp và các văn bản quy phạm pháp luật để điều hành và quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội. Các chuẩn mực nghiệp vụ sẽ do các tổ chức nghề nghiệp soạn thảo và công bố. Việc quản lý nghề nghiệp và hành nghề của các chuyên gia kế toán, các kiểm toán viên sẽ do tổ chức nghề nghiệp kế toán đảm nhiệm, cả về tuân thủ quy định của nghề nghiệp và đạo đức hành nghề. Đó cũng là thông lệ trên thế giới và nhiều quốc gia thực hiện hàng chục năm nay.

(Theo ĐTCK Online)

Toàn tập về Kế toán cơ bản!

Vậy Kế toán là gì ? Kế toán có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm của các tác giả khác nhau.

Trước hết, theo Neddles, Anderson & Caldwell (2003), Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ vào năm 1941 định nghĩa kế toán như sau : kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp một cách có ý nghĩa và dưới hình thức bằng tiền các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các sự kiện mà ít nhiều có liên quan đến tài chính, và giải trình kết quả của việc ghi chép này. Định nghĩa này của kế toán chú trọng đến nhiệm vụ giữ sổ sách cố hữu của người kế toán. Tuy nhiên đây là quan điểm cổ điển về kế toán, nó không còn phù hợp với thực tiễn kế toán hiện nay nữa.

Ngày nay, với quan điểm mới, kế toán không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà đến toàn bộ các hoạt động bao gồm việc hoạch định chương trình và giải quyết vấn đề, đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp và kiểm tra sổ sách. Kế toán ngày nay chú trọng đến nhu cầu bức thiết của những người sử dụng thông tin kế toán dù họ ở bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp.

Do vậy, vào năm 1970 Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ cho rằng nhiệm vụ của kế toán là cung cấp thông tin định lượng, chủ yếu mang tính chất tài chính về các đơn vị kinh tế hạch toán độc lập nhằm giúp ích cho việc làm các quyết định kinh tế.

Chúng ta có thể trích dẫn dưới đây một số định nghĩa về kế toán khác nhau theo quan điểm mới về kế toán.

Theo tinh thần của kế toán quốc tế, kế toán được định nghĩa là hệ thống thông tin và kiểm tra dùng để đo lường/phản ánh, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền tạo ra của một đơn vị kinh tế.

Theo quan điểm nêu trong Luật kế toán của Việt Nam, định nghĩa kế toán được trình bày ở điều 4 như sau : Kế toán là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.

Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì kế toán được xem là việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn của Nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp.

Theo Libby, Libby, Short, Lafond, Lanthier (2003), kế toán là một hệ thống thông tin cho phép thu thập và truyền đạt thông tin mà chủ yếu là những thông tin mang bản chất tài chính thường được số hoá dưới hình thức giá trị về các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp và các tổ chức. Những thông tin này được cung cấp nhằm giúp những người quan tâm trong quá trình ra các quyết định kinh tế mà chủ yếu các quyết định này liên quan đến việc phân bổ nguồn lực.

(Theo sưu tầm)