| |
| |
Cập nhật liên tục các thông tin kinh tế, tài chính, chứng khoán, giá vàng, cổ phiếu, xăng dầu, bất động sản, dự án đầu tư, quy hoạch...trong nước và thế giới.
Sunday, 20 December 2009
Thông tư 228 mới hướng dẫn chế độ trích lập dự phòng-Sẽ xử phạt doanh nghiệp trích lập các khoản dự phòng sai quy định
Theo đó, các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có thu nhập chịu thuế phải trích lập quỹ dự phòng. Riêng việc trích lập dự phòng tại tổ chức tín dụng thực hiện theo hướng dẫn chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng. Quỹ dự phòng được trích và tính vào chi phí hoạt động kinh doanh theo năm, giúp DN có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra.
Điểm mới của Thông tư 228 là có hướng dẫn trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán chưa niêm yết. Theo đó, căn cứ lập dự phòng là giá bình quân của 03 báo giá từ 03 công ty chứng khoán.
Thông tư nghiêm cấm DN lợi dụng việc trích lập dự phòng để tính thêm vào chi phí các khoản dự phòng không có đủ căn cứ, nhằm làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách. Những DN cố tình vi phạm sẽ bị xử phạt như hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.
Theo Kiemtoan.com.vn
| Ảnh minh họa. |
Theo đó, kể từ tháng 1/2010, các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, có thu nhập chịu thuế (gọi chung là doanh nghiệp) được trích lập các khoản dự phòng gồm: Giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư chính, nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp; các khoản dự phòng được trích và tính vào chi phí hoạt động kinh doanh theo năm, giúp doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra.
Thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm cuối kỳ kế toán năm. Trường hợp doanh nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch (bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm) thì thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng ở cả thời điểm lập báo cáo tài chính giữa niên độ.
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế về quản lý vật tư, hàng hóa, quản lý công nợ để hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Đối với công nợ, hàng hoá, quy chế phải xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng người trong việc theo dõi, quản lý hàng hoá, thu hồi công nợ...
Nếu doanh nghiệp lợi dụng việc trích lập dự phòng để tính thêm vào chi phí các khoản dự phòng không có đủ căn cứ, nhằm làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách; thì sẽ bị xử phạt như hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.
Friday, 18 December 2009
Phương pháp tính giá nhập hàng tồn kho
- Việc tính giá hàng tồn kho sẽ tạo điều kiện cho kế toán tính toán chính xác và ghi chép kịp thời trị giá của hàng nhập kho, do đó sẽ cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin đầy đủ, kịp thời, góp phần quản lý hoạt động thu mua, sản xuất hàng tồn kho có hiệu quả.
- Thông qua tính giá hàng tồn kho giúp kế toán ghi nhận, xử lý và cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác về sự biến động, sử dụng hàng hoá sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời chi tiết theo từng chủng loại, nhóm vật tư, hàng hoá,… làm cơ sở cho việc quản lý dự trữ, sản xuất vật tư, sản phẩm, hàng hoá hàng tồn kho.
- Hơn nữa, việc tính giá hàng tồn kho giúp cho kế toán tính toán được trị giá vốn của hàng tồn kho, kết hợp với việc ghi nhận, phản ánh doanh thu hàng bán, kế toán sẽ xác định được kết quả tiêu thụ sản phẩm và kết quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giúp cho việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hơn.
Tóm lại, việc tính giá hàng tồn kho ở doanh nghiệp một cách trung thực và đáng tin cậy là yêu cầu thiết yếu. Song để thực hiện được điều này, trong quá trình hạch toán hàng tồn kho phải đảm bảo tuân thủ theo các nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc thực chất, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc nhất quán,… Quá trình tuân thủ các nguyên tắc này thể hiện trong việc xác định nội dung cấu thành giá hàng tồn kho, các phương pháp xác định trị giá hàng tồn kho tăng, giảm và tồn cuối kỳ.
* Với doanh nghiệp kinh doanh thương mại: Ở doanh nghiệp này hàng tồn kho là hàng đang trong kho, hàng hoá đã mua nhưng đang đi đường hoặc hàng hoá gửi bán ở doanh nghiệp khác. Khi phản ánh trên sổ sách kế toán, hàng tồn kho được phản ánh theo giá thực tế nhằm đảm bảo nguyên tắc giá phí.
Giá trị thực tế của hàng hoá mua vào = Giá mua ghi trên hoá đơn + Chi phí thu mua hàng hoá + Thuế - Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua được hưởng
Giá mua ghi trên hoá đơn: Là số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người bán theo hợp đồng hay hoá đơn tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp áp dụng, cụ thể là:
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ giá mua hàng hoá là giá chưa có thuế GTGT đầu vào.
- Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và hàng không chịu GTGT thì giá mua là tổng thanh toán.
Chi phí thu mua hàng hoá: Chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ, lưu kho, lưu bãi, bảo hiểm hàng mua, hao hụt trong định mức cho phép, công tác phí của bộ phận thu mua, dịch vụ phí,…
Thuế: Thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT (không khấu trừ)
Chiết khấu thương mại: Là số tiền mà doanh nghiệp được giảm trừ do đã mua hàng, dịch vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận
Giảm giá hàng mua: Là số tiền mà người bán giảm trừ cho người mua do hàng kém phẩm chất, sai quy cách… khoản này ghi giảm giá mua hàng hoá.
Giá trị thực tế của hàng hoá gia công chế biến = Trị giá mua thực tế xuất kho + Chi phí sơ chế
* Với doanh nghiệp sản xuất: Ở các doanh nghiệp này hàng tồn kho gồm nguyên vật liệu, giá trị sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng gửi bán. Giá thực tế từng loại hàng tồn kho được xác định như sau:
- Nguyên vật liệu mua chuẩn bị cho sản xuất: Giá thực tế được xác định giống hàng hoá mua vào.
- Với thành phẩm nhập kho: Giá thực tế là giá thành phẩm sản xuất thực tế tức bao gồm ba khoản mục chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Tổng giá thành sản phẩm = Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ + Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ - Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Hạch toán chi phí đi vay theo tinh thần chuẩn mực kế toán số 16
Vay vốn để sản xuất - kinh doanh
Vốn là cơ sở vật chất không thể thiếu được với mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình, ngoài phần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp còn phải vay một khoản vốn của cá nhân, đơn vị khác để đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp. Khi vay vốn, doanh nghiệp phải có hợp đồng vay hoặc khế ước vay. Thời hạn vay, lãi suất vay phải ghi rõ trong hợp đồng hoặc khế ước vay theo sự thoả thuận của hai bên cho vay và đi vay. Tuỳ theo nhu cầu về vốn mà doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn, vay dài hạn, vay bằng tiền Việt Nam, vay bằng ngoại tệ hoặc vay bằng phát hành trái phiếu. Khi sử dụng vốn vay, ngoài việc trả lại gốc vay cho đơn vị cho vay theo thoả thuận, thì doanh nghiệp còn phải trả khoản chi phí đi vay. Chi phí đi vay bao gồm: lãi vay phải trả bằng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ và bằng phát hành trái phiếu; chi phí phát hành trái phiếu và chi phí khác có liên quan đến hoạt động đi vay (chi phí đi lại, giao dịc
1. Trường hợp chi phí đi vay được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ (không được vốn hoá).
Chi phí đi vay không đủ điều kiện để vốn hoá: gồm có 2 khoản, đó là:
- Chi phí lãi vay phải trả.
- Chi phí khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động đi vay.
a) Đối với chi phí lãi vay phải trả: Việc trả lãi vay cho người cho vay có thể trả theo định kỳ, trả trước cho nhiều kỳ hoặc trả sau khi kết thúc hợp đồng hoặc khế ước vay.
* Nếu trả theo định kỳ:
Khi trả lãi vay, căn cứ vào chứng từ thanh toán, ghi:
Nợ TK635/ Có TK111, 112.
* Nếu trả lãi trước cho nhiều kỳ hạch toán.
- Khi trả lãi, ghi:
Nợ TK142: Liên quan trong 1 niên độ kế toán
Nợ TK242: Liên quan trên 1 niên độ kế toán
Có TK111, 112
- Khi phân bổ dần lãi vay vào chi phí, ghi:
Nợ TK635/ Có TK142, 242
* Nếu trả lãi vay sau khi kết thúc hợp đồng hoặc khế ước vay.
- Định kỳ trích trước lãi vay vào chi phí, ghi:
Nợ TK635/ Có TK335
- Trả lãi vay khi kết thúc hợp đồng vay, ghi:
Nợ TK335/ Có TK111, 112
b) Khi phát sinh các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động đi vay, ghi:
Nợ TK635/ Có TK111, 112…
c) Trường hợp doanh nghiệp có thuê tài sản tài chính, thì lãi thuê tài sản tài
chính phải trả, ghi:
- Nếu nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài sản tài chính, doanh nghiệp trả tiền ngay, ghi:
Nợ TK635/ Có TK111, 112
- Nếu nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài sản tài chính, nhưng doanh nghiệp chưa có tiền trả, ghi:
NợTK635/ Có TK315
d) Trường hợp doanh nghiệp thanh toán lãi trả chậm của tài sản mua theo phương thức trả chậm, trả góp cho bên bán.
- Lãi phải trả cho bên bán khi mua tài sản ghi:
Nợ TK242/ Có TK111, 112
- Định kỳ phân bổ dần lãi trả chậm vào chi phí, ghi:
Nợ TK635/ Có TK242
Đánh giá hàng tồn kho cuối niên độ kế toán
Phương pháp đánh giá giá trị hàng tồn kho vào cuối niên độ kế toán của Mỹ là đánh giá hàng tồn kho theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường (Valuing the Inventory at the Lower of Cost or Market - LCM).
Khi vận dụng mức giá thấp hơn của trị giá vốn hay giá thị trường đối với hàng hoá tồn kho, thì giá thị trường thường có nghĩa là trị giá vốn của hàng hoá thay thế. Điều này có nghĩa là giá mà công ty sẽ phải trả nếu công ty mua hàng hoá mới để thay thế số hàng hoá tồn kho.
Trên bảng cân đối kế toán hàng tồn kho có thể được đánh giá theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường theo yêu cầu của nguyên tắc thận trọng. Mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường có thể sử dụng cho hàng hoá tồn kho theo một trong hai cách. Thứ nhất, nó áp dụng cho từng loại hàng tồn kho, hoặc thứ hai, nó có thể áp dụng cho từng nhóm hàng. Để minh hoạ cho hai cách đánh giá này, giả sử hàng tồn kho của một công ty gồm có 5 mặt hàng được phân làm 2 nhóm.
- Nhóm 1 gồm 3 mặt hàng A, B và C.
- Nhóm 2 gồm 2 mặt hàng là D và E.
Việc đánh giá hàng tồn kho theo mức giá thấp hơn giữa giá vốn và giá thị trường được thực hiện như sau:
- Phương pháp đánh giá hàng hoá tồn kho theo từng mặt hàng:
Theo phương pháp này thì mức giá thấp hơn được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá vốn và giá thị trường của từng mặt hàng. Hiện nay, chế độ kế toán Việt Nam đang sử dụng phương pháp này.
- Phương pháp đánh giá hàng hoá tồn kho theo nhóm hàng:
Theo phương pháp này mức giá thấp hơn được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá vốn và giá thị trường của từng nhóm hàng.
Như vậy, 2 phương pháp đánh giá hàng tồn kho cuối niên độ kế toán khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau, doanh nghiệp có thể vận dụng một trong 2 phương pháp trên. Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng phương pháp đánh giá theo từng mặt hàng riêng biệt thì giá thị trường là 87.500, số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần lập là 6.500 ( = 94.000 - 87.500). Trường hợp doanh nghiệp sử dụng phương pháp đánh giá theo nhóm hàng thì giá thị trường là 93.000, số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần lập là 1.000 ( = 94.000 - 93.000).
Mức giá thấp hơn giữa trị giá vốn và giá thị trường cũng được sử dụng để đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của công ty cho các loại chứng khoán thị trường. Tuy nhiên, trong trường hợp đó chỉ có một cách tính được phép sử dụng. Tổng trị giá vốn và tổng giá thị trường của toàn bộ tập hợp chứng khoán đầu tư được so sánh với nhau để xác định mức thấp nhất của trị giá vốn hay giá thị trường.
Hàng tồn kho không được đánh giá cao hơn giá trị thuần thực hiện được.
Quan điểm thị trường được định nghĩa như là trị giá vốn của hàng hoá thay thế có một trường hợp ngoại lệ quan trọng. Trường hợp ngoại lệ này là hàng tồn kho không được đánh giá cao hơn giá trị thuần thực hiện đựơc, là giá bán dự kiến trừ các chi phí phát sinh trước khi bán. Đôi khi giá trị thuần thực hiện được thấp hơn cả giá vốn của hàng hoá thay thế. Trong trường hợp này, hàng hoá chỉ được đánh giá không cao hơn giá trị thuần thực hiện được và phải phản ánh trên sổ kế toán giảm xuống mức giá này.
Giả sử hàng hoá được mua với giá 100, giá bán dự kiến là 130. Vào cuối niên độ kế toán, sự giảm giá chung của thị trường dẫn đến trị giá vốn hàng hoá thay thế là 90. Tuy nhiên, giả sử hàng hoá trên bị lỗi thời, hư hỏng; chi phí hoàn thiện trước khi bán là 5, dự kiến hàng hoá sau khi hoàn thiện được bán với giá 85. Như vậy, giá trị thuần thực hiện được là 85 (= 90 - 5 ). Do giá trị thuần thực hiện được (85) thấp hơn trị giá vốn của hàng hoá thay thế (90) nên hàng hoá phải được phản ánh trên sổ kế toán ở mức giá trị thuần thực hiện đựơc.
Hàng hoá tồn kho không được đánh giá ở mức thấp hơn giá trị thuần thực hiện được trừ đi số dư lợi nhuận bình thường.
Ngoại lệ thứ hai của quan điểm thị trường nghĩa là trị giá vốn hàng hoá thay thế không được phản ánh trên sổ kế toán thấp hơn mức giá trị thuần thực hiện được trừ đi số dư lợi nhuận bình thường.
Giả sử một công ty mua hàng với giá mua 70 và bán với giá 100, lãi gộp là 30 (= 100 - 70); tỷ lệ lãi gộp trên giá bán là 30% (= 30/100). Giả sử cuối niên độ kế toán giá bán giảm xuống còn 90, lãi gộp bình thường sẽ là 90 x 30% = 27. Do đó, hàng hoá tồn kho cuối niên độ kế toán không được đánh giá thấp hơn 90 - 27 = 63, cho dù giá vốn hàng hoá thay thế thấp hơn 63. Nếu hàng hoá tồn kho được phản ánh trên sổ kế toán ở mức thấp hơn 63 thì báo cáo thu nhập của năm hiện hành sẽ phản ánh một số lãi gộp thấp khác thường; và khi hàng hoá được bán với giá 90 trong kỳ tiếp theo thì báo cáo thu nhập sẽ phản ánh số lãi gộp cao khác thường.
Thạc sĩ Phạm Rin - Đại học Duy Tân
(Tapchiketoan.info)
Những sai sót cần tránh trong công tác kế toán tài chính
Hóa đơn :
Khi mua hoá đơn :
Giấy giới thiệu (GGT) :
- Không ghi rõ đến cơ quan thuế để mua hoá đơn (chỉ ghi chung chung đến liên hệ công tác...)
- Các chỉ tiêu như số giấy giới thiệu, ngày, họ tên và chức vụ người được cử đi, tên chữ ký của người ĐDPL, đóng đấu ...... không rõ ràng. Nhân viên đến mua hoá đơn :
- Không mang theo CMND.( Người được giới thiệu )
- Khi gần hết giờ hành chánh mới đến liên hệ mua hoá đơn .
- Cử người không hiểu biết về hoá đơn chứng từ (như bảo vệ, tạp vụ, nhân viên trực điện thoại...) đi mua hoá đơn .
- Không đem theo Phiếu theo dõi tình hình cấp phát hóa đơn ,
- Không lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn ở ký gần nhất .
- Chưa chuẩn bị con dấu khắc Tên DN , Mã số thuế ) để đóng trên liên 2 Sử dụng hoá đơn :
Khi mua hàng :
- Không nhận hoá đơn tại nơi xuất hàng mà nhận hoá đơn do người bán đem đến (dễ bị nhận hoá đơn giả).
Khi xuất hàng :
- Không xuất hoá đơn GTGT đối với Hàng hóa Xuất khẩu ,
- Không xuất hoá đơn đối với doanh thu hàng uỷ thác xuất khẩu.
- Không lót giấy carbon giữa các liên.
- Thiếu chữ ký người mua trên hoá đơn.
- Không ghi thuế suất thuế GTGT . Báo cáo sử dụng hoá đơn : Không lập báo cáo sử dụng hoá đơn theo định kỳ.( Tháng , Quý , Năm ) Các bảng kê hoá đơn bán ra , mua vào :
- Ghi không đầy đủ cột mục theo qui định.
- Cột ngày chứng từ ghi không theo đúng định dạng 30/01/2002 (ghi sai là 01/30/2002 hoặc 30-Jan-02, 2002-01-30 v.v...)
- Trong bảng kê HHDV bán ra không ghi đúng thứ tự số hoá đơn đã sử dụng, không kê hoá đơn đã huỹ vào bảng kê, đồng thời cũng dễ bị kê khai trùng nhiều lần cho cùng một hoá đơn.
- Không lập bảng kê riêng đối với hàng hoá bán ra không chịu thuế GTGT (như hàng đại lý bán đúng giá)
- Trong bảng kê hoá đơn mua vào không lập bảng kê riêng đối với những hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất, hàng không chịu thuế GTGT.
Kê khai thuế :
Kê khai thuế GTGT hàng tháng
- Thiếu chỉ tiêu 5 (dòng thuế GTGT được khấu trừ)
- Nhầm lẫn giữa các dòng làm sai lệch nội dung của tờ khai.
- Nhân viên kế toán làm cho nhiều công ty khác nhau, khi lập tờ khai bằng máy tính quên thay đổi mã số thuế, tên công ty, địa chỉ .... của công ty.
- Gộp doanh thu và thuế đầu ra của nhiều thuế suất ghi chung vào một dòng
- Không tính gộp cả doanh thu của HHDV không chịu thuế GTGT vào chỉ tiêu 1.
- Cấn trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế GTGT chưa nộp của kỳ trước.
- Tính vào số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá nhập khẩu theo thông báo của Hải Quan, trong khi chưa nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu đó.
- Kê khai khấu trừ 3% đối với hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB nhưng mua về không phải để bán ra.
- Không tách riêng bảng kê Hàng hóa DV mua vào có hóa đơn bán hàng được khấu trừ tỷ lệ 3% . Kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng tháng đã chặn trừ tại nguồn :
- Hàng tháng đã chặn trừ thuế thu nhập của người lao động nhưng chiếm dụng không kê khai và nộp vào ngân sách kịp thời đúng theo qui định của pháp lệnh thuế thu nhập.
- Những đơn vị có nộp thuế TNCN của người nước ngoài, không lập riêng tờ khai hoặc đã kê khai lẫn lôn giữa người VN với người nước ngoài. Kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp hàng năm :
- Không chủ động kê khai đúng thời gian theo qui định của Luật thuế, bị cơ quan thuế nhắc nhở, xử phạt hành chánh.
- Đơn vị tính : Nội dung số liệu không tương ứng với đơn vị tính đã ghi bên trên biểu mẫu.
- Không ghi đầy đủ các khoản chi phí theo đúng mẫu qui định.
Quyết toán thuế GTGT năm
- Dòng thuế phải nộp ghi tổng số thuế đầu ra, và dòng thuế đã nộp ghi tổng thuế GTGT đầu vào.
- Dòng thuế đã nộp năm quyết toán : Ghi sai là số đã nộp cho năm báo cáo (bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không phân biệt nộp cho năm báo cáo hay truy nộp cho các năm trước).
Hồ sơ báo cáo quyết toán thuế :
- Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ. - Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương không có người ký nhận.
- Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).
- Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế được miễn giảm.
Nộp thuế :
- Ghi nhầm tên người nộp là tên cá nhân đi nộp tiền ( Phải ghi tên pháp nhân Doanh nghiệp ).
- Không nắm rõ các qui định về thời hạn nộp thuế của từng sắc thuế để chủ động nộp trước ngày hết hạn, bị cơ quan thuế nhắc nộp và bị phạt nộp chậm.
- Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước : Không ghi rõ tài khoản của cơ quan thuế trên giấy nộp tiền, thiếu quan tâm ý nghĩa của những mã hiệu mục lục ngân sách nhà nước có liên quan (cấp, chương, loại, khoản, muc, tiểu mục) để ghi cho đúng.
- Khi phát sinh khoản phải nộp (không thuộc các loại thuế thông thường) đã không lập tờ khai nộp cho cơ quan thuế
Hạch toán kế toán
- Ngay sau khi lập đề nghị hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp đã không hạch toán làm giảm số dư nợ, không hạch toán đồng thời vào tài khoản phải thu phải trã, mà vẫn để số thuế nầy được tiếp tục khấu trừ cho kỳ sau.
- Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt... của cơ quan thuế, doanh nghiệp không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với sôÌ� liêÌ£u của cơ quan thuế.
- Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính : Định kỳ hàng tháng không in ra toàn bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai.
ĐĂNG KÝ THUẾ
- Thay đổi kế toán trưởng, địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, fax, e-mail.... không đăng ký với cơ quan thuế.
HOÀN THUẾ GTGT
Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu :
- Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.
- Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .
- Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan .
Văn thư đề nghị hoàn thuế (mẫu 10/GTGT) không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được hoàn thuế (xuất khẩu hay âm luỹ kế 3 tháng v.v...).
Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng tháng (phải điều chỉnh lại số liệu đã kê khai nhầm trước khi lập hồ sơ hoàn thuế).
Phó giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký tên vào văn thư đề nghị hoàn thuế GTGT không được xem là hợp lệ.
Tài khoản đề nghị chuyển số tiền thuế GTGT được hoàn không đúng với số hiệu tài khoản và tên ngân hàng đã đăng ký thuế.