Cập nhật liên tục các thông tin kinh tế, tài chính, chứng khoán, giá vàng, cổ phiếu, xăng dầu, bất động sản, dự án đầu tư, quy hoạch...trong nước và thế giới.
Citadel có 165 kênh FM và 58 kênh AM, sở hữu tài sản 1,4 tỷ USD, trong khi gánh khoản nợ lên tới 2,5 tỷ USD.
Hãng phát thanh lớn thứ ba của Mỹ là Citadel Broadcasting vừa nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên toàn án nước này
Hãng phát thanh lớn thứ ba của Mỹ là Citadel Broadcasting vừa nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên toàn án nước này. Doanh thu quảng cáo sụt giảm là lý do khiến lĩnh vực phát thanh tại Mỹ đang phải đương đầu với những thách thức lớn.
Sau khi đàm phán với 60% số chủ nợ có thứ hạng ưu tiên cao, Citadel đã đệ đơn phá sản theo Chương 11 của Luật phá sản Mỹ. Hãng này có 165 kênh FM và 58 kênh AM, sở hữu tài sản 1,4 tỷ USD, trong khi gánh khoản nợ lên tới 2,5 tỷ USD.
Theo thỏa thuận với các chủ nợ, Citadel sẽ được xóa nợ số tiền vay 1,4 tỷ USD. Số nợ còn lại sẽ được trả cho các chủ nợ dưới dạng cổ phiếu mới trong công ty sau khi tái cơ cấu.
Dự kiến, trong và sau khi hoàn tất quá trình phá sản, Citadel vẫn sẽ duy trì hoạt động bình thường. Giám đốc điều hành của công ty, ông Farid Suleman, tuyên bố, họ sẽ nỗ lực để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu diễn ra nhanh nhất có thể.
Cùng với các đối thủ khác trong ngành phát thanh tại Mỹ, Citadel đang phải đối mặt với sự sa sút nhanh chóng của doanh thu quảng cáo. Trong quý 3 vừa qua, doanh thu của hãng này sụt mất 14%, còn có 183 triệu USD. Mức lỗ của Citadel trong quý là 21 triệu USD, tương đương 0,08 USD/cổ phiếu, so với mức lãi 0,1 USD/cổ phiếu cùng kỳ năm ngoái.
Citadel cũng là chủ sở hữu của đài phát thanh ABC sau khi vay nợ để mua đài này từ hãng Walt Disney vào năm 2006.
Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.
Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ
Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.
Đó là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.
VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.
Năm 2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay. Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn chặn một cách ngoạn mục.
Cách đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.
Tuy nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.
Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.
Mặc dù vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy thoái này đã không quá khủng khiếp.
Nhưng điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn.
Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.
Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.
Giá nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công, chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.
Nếu bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế giàu có.
Sự khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.
Tỷ lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.
Do vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn. Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia tăng.
Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài.
Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.
Một số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài hạn cũng sẽ giảm bớt.
Tuy nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.
Đó là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích thích tăng trưởng.
Tệ hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu. Tại Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.
Có thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương...
Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.
Tham tán Thương mại VN tại Mỹ Ngô Văn Thoan dự báo năm 2010, xuất khẩu của VN sang Mỹ sẽ tăng tối thiểu 10% so với năm 2009.
Một số mặt hàng xuất khẩu chính như dệt may vẫn sẽ giữ được thị trường, giày dép chắc chắn vẫn giữ được đà tăng trên 11% và đồ gỗ nội thất cũng vẫn có nhiều triển vọng.
Theo TTXVN, ông Thoan cho biết trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, trao đổi thương mại Việt - Mỹ trong năm 2009 vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Tính đến tháng 10/2009, kim ngạch xuất khẩu của VN vào Mỹ đạt xấp xỉ 10,3 tỉ USD, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái 2,3%, nhưng đây là mức giảm thấp nhất trong số các nước xuất khẩu vào Mỹ, kể cả những nước có thế mạnh về xuất khẩu như Canada, Đức và Nhật Bản. Trong đó, xuất khẩu của Đức vào Mỹ giảm hơn 34%, Nhật Bản và Canada đều giảm 29%.
Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.
Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.
Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế. Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.
Cái khó của kẻ đến sau
Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ.
Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ không đủ nguyên liệu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu.
TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.
Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm.
Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn. “Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.
Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025.
Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.
Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.
Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang).
Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được.
Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.
Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt
Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?
Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than. TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu.
Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).
Không chỉ có Mỹ, các nền kinh tế Eurozone, Nhật ,Anh... vẫn đang duy trì lãi suất cơ bản ở những mức thấp kỷ lục hoặc gần kỷ lục để kích thích kinh tế - Getty Images.
Năm nay là năm mà các quốc gia nỗ lực dọn dẹp đống đổ nát mà cuộc khủng hoảng tài chính để lại
Những kế hoạch kích cầu lớn chưa từng có, các nền kinh tế hàng đầu thế giới bắt đầu tăng trưởng trở lại, những vụ phá sản lớn, nỗi lo khủng hoảng nợ... là vài trong số những câu chuyện cần điểm qua về kinh tế thế giới trong năm 2009 này.
1. Kích thích kinh tế là trọng tâm
Kích thích kinh tế có lẽ là câu chuyện lớn nhất của kinh tế thế giới năm nay. Nếu xem năm 2008 là năm mà kinh tế toàn cầu bị trận bão khủng hoảng tài chính càn quét, thì năm 2009 chính là năm mà các quốc gia nỗ lực dọn dẹp đống đổ nát mà cuộc khủng hoảng đã để lại.
Nước Mỹ là nơi mà cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế bắt đầu, nên cũng là quốc gia đi tiên phong trong việc khắc phục hậu quả. Sau khi chính thức nhậm chức vào ngày 20/1, Tổng thống Mỹ Barack Obama ngay lập tức thúc đẩy một gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD nhằm đưa nền kinh tế Mỹ thoát khỏi tình trạng suy thoái tồi tệ.
Bên kia bờ Đại Tây Dương, Chính phủ Anh cũng thực hiện chính sách “nới lỏng định lượng”, bơm 200 tỷ Bảng (tương đương 330 tỷ USD) vào nền kinh tế. Chính phủ các nước châu Âu khác như Đức, Pháp, Italy, Ba Lan... cũng chi nhiều tỷ USD để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân. Gần đây nhất, vào ngày 7/12, Chính phủ Nhật Bản đã công bố một gói kích cầu mới trị giá 7.200 tỷ Yên, tương đương 81 tỷ USD.
Ngành công nghiệp ôtô là một trong những đối tượng hưởng lợi nhiều từ chính sách kích cầu của chính phủ các nước trong năm. Ban đầu được áp dụng ở Đức, chương trình “thưởng dập xe cũ”, trong đó tặng tiền cho những người mang xe cũ đi dập và mua xe mới có khả năng tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn, đã được nhân rộng ra nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật Bản... và đem đến tác động tích cực cho doanh số của các hãng xe.
2. Thoát suy thoái nhưng tăng trưởng yếu ớt
Với nỗ lực của các chính phủ, các nền kinh tế hàng đầu thế giới đã dần thoát khỏi suy thoái, tuy tốc độ tăng trưởng còn rất yếu ớt. Quý 3 vừa qua, kinh tế Mỹ đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 2,8% sau 4 quý liền liên tục suy giảm. Kinh tế Nhật, về phương diện kỹ thuật, cũng đã thoát suy thoái từ quý 2 năm nay. Suy thoái cũng đã rời khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu Euro (Eurozone) từ quý 2.
Đáng chú ý, nhờ hoạt động tín dụng mở rộng với tốc độ kỷ lục và gói kích cầu trị giá gần 600 tỷ USD mà Chính phủ Trung Quốc đưa ra vào cuối năm 2008, kinh tế nước này đã thành công với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng trên 8%. GDP của Trung Quốc trong quý 3 đã tăng trưởng 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều ý kiến cho rằng, Trung Quốc đã biến cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu này thành một cơ hội, và nhận định, không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Tạp chí uy tín Time của Mỹ đã đánh giá rất cao thành tích tăng trưởng ấn tượng của kinh tế Trung Quốc năm nay khi đưa người lao động của nước này vào top 5 nhân vật hàng đầu của năm 2009. Người dẫn đầu những nỗ lực cứu kinh tế Mỹ khỏi suy thoái là Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED) Ben Bernanke cũng đã được Time bình chọn là Nhân vật của năm.
Trong khi đó, cùng với sự trì trệ của tăng trưởng, kinh tế Nhật phải đối mặt với sự trở lại của giảm phát. Giá cả ở nước này đang diễn biến theo chiều hướng đi xuống, khiến người ta lo ngại về một vòng xoáy giảm phát, đe dọa nền kinh tế đất nước mặt trời mọc.
Đó là lý do vì sao mà giữa lúc các nền kinh tế trên thế giới bắt đầu cân nhắc tới chuyện hậu kích cầu, rút lui khỏi các biện pháp kích thích sao cho vừa đảm bảo được sự phục hồi, vừa tránh được nguy cơ lạm phát cao, thì Nhật Bản lại tung ra một gói kích thích kinh tế mới vào ngày 7/12 vừa qua.
Tới thời điểm cuối năm 2009 này, chính phủ các nước tiếp tục giữ thái độ lạc quan thận trọng về triển vọng phục hồi kinh tế. Đó là lý do vì sao những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Eurozone, Nhật Bản và Anh vẫn đang duy trì lãi suất cơ bản ở những mức thấp kỷ lục hoặc gần kỷ lục. Quốc gia hiện đi đầu trong việc tăng lãi suất trở lại là Australia, với 3 lần tăng lãi suất trong 3 tháng qua.
3. Thất nghiệp leo thang
Năm nay là năm mà tỷ lệ thất nghiệp leo thang mạnh tại những nền kinh tế hàng đầu. Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp tháng 10 vừa qua đã lên tới 10,2%, cao nhất trong 26 năm, trước khi giảm xuống 10% vào tháng 11. Tại Nhật Bản, tỷ lệ thất nghiệp đã đạt mức kỷ lục 5,7% trong tháng 8. Tại Eurozone, đội ngũ không công ăn việc làm cũng đang chiếm gần 10% lực lượng lao động.
4. Nợ công gia tăng và rủi ro khủng hoảng nợ
Dù không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của các gói kích thích kinh tế trong việc đẩy lùi bước tiến của suy thoái, nhưng một trong những “tác dụng phụ” có thể xảy ra của những kế hoạch có quy mô khổng lồ này chính là sự gia tăng của thâm hụt ngân sách, nợ công, và rủi ro về một cuộc khủng hoảng nợ.
Theo số liệu của New York Times, tại Đức - quốc gia từ lâu vẫn đề cao chuyện tiết kiệm chi tiêu công - nợ chính phủ đang trên đà tăng và dự báo sẽ đạt mức 77% GDP vào năm tới, từ mức 60% GDP vào năm 2002. Tại Anh, nợ chính phủ trong cùng khoảng thời gian được dự báo tăng gấp đôi, lên mức hơn 80% GDP.
Trong năm tài khóa kết thúc vào ngày 30/9/2009, thâm hụt ngân sách Mỹ đã lên tới mức kỷ lục 1.400 tỷ USD, tương đương 9,9% GDP của nước này.
Trên thực tế, một vài dấu hiệu về khủng hoảng nợ đã xuất hiện. Cuối tháng 11 vừa qua, thị trường tài chính toàn cầu đã chấn động khi tiểu vương quốc Dubai thuộc Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) tuyên bố xin khất nợ cho tập đoàn quốc doanh Dubai World. Không lâu sau đó, Hy Lạp liên tục bị đánh tụt hạng mức tín nhiệm nợ chính phủ, khiến giới đầu tư thế giới thêm lo lắng.
5. Thị trường chứng khoán, hàng hóa khởi sắc
Cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán và hàng hóa toàn cầu năm nay cũng khởi sắc. Theo số liệu do tạp chí Business Week cung cấp, trong 11 tháng đầu năm nay, các loại trái phiếu có định mức tín nhiệm thấp trên thế giới đem đến cho giới đầu tư tỷ lệ lợi nhuận 58%, tiếp đó là thị trường hàng hóa với mức lợi nhuận 36%, vàng (34%), chứng khoán (29%), trái phiếu doanh nghiệp hạng đầu tư (23%), và trái phiếu chính phủ (8%).
6. M&A dậy sóng
Thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) năm qua đã dậy sóng sau một thời gian im lìm vì khủng hoảng và suy thoái. Những thương vụ lớn nhất phải kể tới trong năm nay bao gồm vụ tỷ phú Warren Buffett của Mỹ mua hãng vận hành đường ray Burlington với giá 26,3 tỷ USD, vụ tập đoàn dầu lửa Exxon Mobil mua hãng năng lượng XTO với giá 41 tỷ USD, hãng Disney chi 4 tỷ USD để mua lại công ty giải trí Marvel Entertainment... Bên cạnh đó, làng công nghệ đã chứng kiến hàng loạt vụ sáp nhập đáng nói trong năm nay, gồm các vụ Oracle mua Sun Microsystems, Dell mua Perot Systems, Xerox mua Affiliated Computer Services, và HP mua 3Com.
7. Ngân hàng Mỹ bắt đầu làm ăn có lãi
Tình hình của ngành ngân hàng Mỹ, nơi bắt nguồn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã được cải thiện trong năm nay. Các định chế tài chính của Mỹ như Bank of America, JPMorgan Chase, Goldman Sachs, Citigroup, Wells Fargo... đã bắt đầu làm ăn có lãi trở lại và đang thực hiện việc trả lại các khoản tiền cứu trợ của Chính phủ nước này.
Việc các nhà băng lớn này trả nợ cho Chính phủ Mỹ cũng nhằm mục đích thoát khỏi sự giám sát ngặt nghèo của các nhà chức trách, đặc biệt đối với vấn đề tiền thưởng.
8. “Nóng” chuyện tiền thưởng
Chuyện tiền thưởng của các định chế tài chính là một câu chuyện tốn nhiều giấy mực của báo chí trong năm qua. Dư luận Mỹ và nhiều nước tại châu Âu đã hết sức bất bình khi giới lãnh đạo nhà băng hưởng những khoản tiền thưởng kếch xù và duy trì lối sống xa hoa giữa lúc tiền thuế của dân được dùng để cứu trợ các ngân hàng thoát khỏi nguy cơ sụp đổ.
Tuy nhiên, làn sóng đổ vỡ vẫn chưa ngừng dâng cao trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Tính tới ngày 12/12 vừa qua, đã có tới 133 ngân hàng Mỹ sụp đổ trong năm 2009, con số cao nhất kể từ khi xảy ra cuộc khoảng tiết kiệm và cho vay ở nước này vào năm 1992.
9. Trật tự mới trong ngành công nghiệp ôtô
Một câu chuyện buồn nữa của năm 2009 là hai tập đoàn hàng đầu của ngành công nghiệp ôtô Mỹ lâm vào cảnh phá sản. Hãng General Motors (GM) đã ghi danh mình vào lịch sử bằng vụ phá sản lớn nhất từ trước tới nay của ngành công nghiệp Mỹ. Chrysler cũng chung số phận với GM, dù đã được Chính phủ Mỹ bơm vốn cứu trợ. Trong số ba “đại gia” công nghiệp ôtô Mỹ, chỉ có hãng Ford là vượt qua khủng hoảng mà không cần tới sự trợ giúp của Washington.
Trong khi đó, tận dụng thời cơ các hãng xe lớn như Toyota và GM gặp khó khăn, những hãng xe có quy mô nhỏ hơn như Volkswagen, Hyundai, Nissan, Fiat... đã nhanh chóng vươn lên chiếm lĩnh thị phần. Cuộc khủng hoảng này được xem là đang dần tạo ra một trật tự mới trong ngành công nghiệp ôtô thế giới.
Phá sản cũng là kết cục của một số công ty đình đám nữa trong năm nay, như hãng thiết bị viễn thông Nortel, một loạt công ty báo chí Mỹ như Reader's Digest và Sun Times, Philadelphia Newspapers và Tribune, sòng bạc Trump Entertainment của tỷ phú Mỹ Donald Trump...
10. Những vụ bê bối tài chính bị đem ra ánh sáng
Nếu như cuối năm 2008, thế giới chấn động khi vụ lừa đảo 50 tỷ USD của nhà tài chính Bernie Madoff bị phanh phui, thì trong năm nay, dư luận lại thêm nhiều lần ngỡ ngàng khi một loạt vụ bê bối tài chính nữa bị đem ra ánh sáng. Trong số này phải kể tới vụ gian lận tài chính ở công ty Satyam Computer Services của Ấn Độ và vụ lừa đảo 8 tỷ USD của tỷ phú Mỹ Allen Stanford.
“Trùm lừa” Madoff cũng đã hầu tòa vào tháng 6 vừa qua và bị tòa tuyên mức án 150 năm tù giam. (Theo Vneconomy)
Mấy ngày qua, dư luận “dậy sóng” với mức thu nhập 78 triệu đồng/tháng của lãnh đạo một tổng công ty lớn. Nhưng mức thu nhập ấy vẫn chỉ là “muỗi” so với giám đốc một doanh nghiệp nhà nước ở Kiên Giang: Hơn 238 triệu đồng/tháng, tức hơn 2,8 tỷ đồng/năm.
Lương, thưởng lãnh đạo cao ngất trời!
Công ty TNHH Một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang (gọi tắt là Công ty XNK) là DNNN trực thuộc một Tổng Công ty chuyên về lương thực, có trụ sở đặt tại đường Lạc Hồng, TP Rạch Giá. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là lương thực, xăng dầu và chế biến các loại cá cơm xuất khẩu.
Năm 2008, công ty này làm ăn khá suôn sẻ, với tổng lợi nhuận sau thuế là gần 115 tỉ đồng. Tuy nhiên, so với một vài doanh nghiệp khác trên địa bàn Kiên Giang như Công ty XSKT, Công ty Du lịch - Thương mại thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty này không bằng. Dù vậy, mức lương và các khoản thu nhập khác của người lao động và đặc biệt là lãnh đạo công ty rất cao so với các doanh nghiệp khác. Trong đó thu nhập từ lương và các khoản thưởng khác của Giám đốc Quách Thành Công là trên 2,863 tỷ đồng/năm; Chủ tịch công ty Nguyễn Kim Kiên trên 2,163 tỷ đồng.
Cụ thể, Giám đốc Quách Thành Công lương gần 807 triệu đồng, tiền thưởng năm 2008 là hơn 2 tỉ đồng, thưởng khác 12 triệu đồng, tổng cộng thu nhập năm 2008 là trên 2,8 tỉ. Như vậy, thu nhập bình quân hàng tháng trên 238,5 triệu đồng.
Theo Cục Thuế Kiên Giang, thuế thu nhập cá nhân mà ông Công phải nộp năm 2008 trên 1 tỷ đồng, hiện đã nộp trên 771 triệu đồng. Ông Nguyễn Kim Kiên lương trên 758 triệu đồng, thưởng gần 1,4 tỷ đồng, thưởng khác 8 triệu đồng, thu nhập bình quân tháng 180 triệu đồng; thuế thu nhập cá nhân phải nộp trên 763 triệu đồng, đã nộp trên 614 triệu đồng.
“Doanh nghiệp TƯ, Sở không điều tiết được...”
Theo quyết toán chi tiết thuế thu nhập cá nhân của công ty này, năm 2008, công ty có 227 người, trong đó có 4 người không phải nộp thuế thu nhập, số còn lại phải nộp. Trừ giám đốc và chủ tịch công ty có tổng thu nhập cả năm cao ngất ngưởng, còn có 7 vị khác thu nhập cũng rất cao từ trên 545 triệu đồng đến 895 triệu đồng/năm.
Bản quyết toán của công ty cũng thể hiện rõ, năm 2008, ngoài 27 người làm việc tại công ty có mức thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm, số còn lại mức thu nhập từ trên 100 triệu đồng đến hơn 437 triệu đồng. Số này, chủ yếu là công nhân lao động trực tiếp ở các nhà máy, phân xưởng chế biến xuất khẩu gạo và các ngành hàng kinh doanh khác.
Trước mức lương gây sốc này, một luật sư có văn phòng đặt tại TP Rạch Giá nói: “Tôi không ngờ lương của các vị này cao thế, chỉ cần một tháng lương của giám đốc là mua được căn hộ thu nhập thấp mà tỉnh đang rao bán”. Một chủ quán cà phê ở thị trấn Hòn Đất thì nghi ngờ: Lãnh đạo công ty này thu nhập lại cao như thế, không biết họ lấy khoản nào để trả?
Trao đổi với phóng viên về mức lương cao “ngất trời” của lãnh đạo Công ty XNK Kiên Giang, ông Nguyễn Hữu Hùng - Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Kiên Giang - cho biết, do công ty này trực thuộc một Tổng Công ty, đóng trên địa bàn tỉnh nên nằm ngoài tầm của tỉnh khi Sở xây dựng đơn giá tiền lương.
Ông Hùng nói: Không biết Tổng Công ty mẹ dựa vào cơ sở nào mà xây dựng mức lương và tiền thưởng của lãnh đạo doanh nghiệp này cao như thế? Việc này phải hỏi lại Bộ LĐ-TB&XH. Riêng ở Kiên Giang, một số doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hàng năm đóng góp cho ngân sách nhà nước rất lớn như Công ty Xổ số kiến thiết, Công ty Du lịch - Thương mại... nhưng mức thu nhập cả năm (bao gồm lương thưởng) của lãnh đạo doanh nghiệp cũng chỉ trên 300 triệu đồng!
Theo Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, năm 2008, Công ty TNHH một thành viên XNK Kiên Giang chỉ nộp ngân sáchkhoảng 4,7 tỷ đồng. Với hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng nộp ngân sách như thế, những người lãnh đạo, điều hành công ty này có xứng đáng hưởng mức thu nhập “trên trời” như vậy?
Rất nhiều doanh nghiệp và người lao động ở Kiên Giang tỏ ra bức xúc trước việc này và đề nghị các cơ quan chức năng giải thích, làm rõ, trước hết là lãnh đạo Tổng Công ty “mẹ” của công ty này và Bộ LĐ-TB&XH.
Ngày 10/11/2006, lãnh đạo UBND Tp.HCM trao giấy phép điều chỉnh dự án nhà máy sản xuất chip (mở rộng diện tích và nâng vốn đầu tư lên 1 tỷ USD) cho đại diện Tập đoàn Intel.
Dự kiến tháng 7/2010 nhà máy chip đầu tiên tại Việt Nam với vốn đầu tư 1 tỷ USD của Intel sẽ đi vào hoạt động
Dự kiến tháng 7/2010 nhà máy chip đầu tiên tại Việt Nam với vốn đầu tư 1 tỷ USD của Intel sẽ đi vào hoạt động.
Thông tin này được đại diện Tập đoàn Intel đưa ra tại cuộc họp báo vừa qua tại Tp.HCM.
Bà Debjani Ghosh, Tổng giám đốc Intel Đông Nam Á và Intel Việt Nam, cho biết, đến thời điểm này, nhiều công đoạn để đưa nhà máy sản xuất chip với số vốn đầu tư lên tới 1 tỷ USD của Intel tại Việt Nam đã được hoàn thành đúng tiến độ. Dự kiến tháng 7/2010, nhà máy sẽ chính thức đi vào hoạt động, đưa ra sản phẩm con chip đầu tiên ở Việt Nam.
Nếu như ban đầu, nhà máy Intel ở Việt Nam dự kiến chỉ sản xuất chip thì nay có thêm dự kiến mới. Intel cho biết, trong tương lai, nhà máy này sẽ sản xuất cả bộ vi xử lý dành cho các thiết bị di động. Trước mắt, các sản phẩm của nhà máy sẽ tập trung ở thị trường nội địa, sau đó hướng tới xuất khẩu.
Năm 2007, Intel bắt đầu khởi động việc xây dựng nhà máy tại Công viên công nghệ cao Sài Gòn với dự kiến, khi triển khai đầy đủ, năng lực sản xuất sẽ đạt 600 triệu con chip mỗi năm và tuyển dụng tới 4.000 nhân công.
Ngoài thông tin dự án trên, bà Debjani Ghosh cũng cho biết, năm 2009, Intel Việt Nam tiếp tục có kết quả kinh doanh khả quan. Dự kiến, tốc độ tăng trưởng doanh thu của hãng tại Việt Nam sẽ đạt mức 25% so với năm 2008.
Trong bước tăng trưởng trên, theo phân tích của Intel, thị trường Việt Nam đang có sự chuyển hướng mạnh trong tiêu dùng các sản phẩm cao cấp. Năm 2009, những sản phẩm cao cấp được bán nhiều hơn tại thị trường này. Cụ thể là lượng máy tính xách tay dự tính tăng tới 55% so với năm 2008 và thị phần cho sản phẩm này là 28%. Năm 2008, lượng máy tính xách tay bán ra khoảng 454.000 chiếc; lượng máy tính để bàn là 1.290.000 chiếc.
Cũng theo Intel, Việt Nam có dân số trẻ và tỷ lệ máy tính trong các hộ gia đình chỉ từ 6%-7%. Đây là một tỷ nhỏ và cho thấy có nhiều cơ hội để cung cấp các dòng máy tính cho các hộ gia đình. Intel dự tính mức tăng trưởng thị trường máy tính tại Việt Nam là 32%/năm, đứng thứ 2 tại châu Á - Thái Bình Dương, sau Indonesia.
“Sự tăng trưởng máy tính đi cùng với yêu cầu kết nối Internet. Hiện, tỷ lệ người đăng ký thuê broadband (băng thông rộng) ở Việt Nam là 2,5 triệu thuê bao, là tỷ lệ rất nhỏ, chiếm gần 3% so với dân số và chúng ta có cơ hội rất lớn. Mục tiêu được đặt ra đến năm 2012 là 30 – 32 triệu thuê bao. Nếu Việt Nam có mạng wifi khắp nơi đến vùng sâu vùng xa và thế hệ mạng thứ 4G – WiMAX triển khai sớm thì sẽ nhanh chóng hoàn thành mục tiêu này”, bà Debjani Ghosh nói. (Theo Vneconomy)
Theo báo cáo của Bộ Lao động vừa gửi Chính phủ, lương bình quân tháng của ngành hàng không là 13 triệu đồng, dầu khí 12 triệu đồng, gấp gần 10 lần ngành dệt may.
Ngày 15/12, Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã báo cáo Chính phủ về thực trạng cung - cầu lao động Việt Nam. Theo đó, việc áp dụng chính sách tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp cứng nhắc, chưa phản ánh đúng thực tế.
Hiện nay, lương bình quân tháng của một số ngành cao như: vận tải hàng không 13 triệu đồng, dầu khí 12 triệu đồng. Một số ngành ở mức khá như tài chính tín dụng 5,2 triệu đồng, sản xuất thiệt bị văn phòng và máy tính 4,4 triệu đồng, khai thác than 3,7 triệu đồng, bưu chính viễn thông 3,6 triệu đồng, y tế 3,4 triệu đồng, sản xuất điện 3,3 triệu đồng.
Trong khi đó, một số ngành lương bình quân tháng quá thấp như nuôi trồng thủy sản chỉ 1,1 triệu đồng, lâm nghiệp - da giày 1,3 triệu đồng, dệt may 1,4 triệu đồng.
Qua khảo sát thực tế cho thấy tiền lương trong các doanh nghiệp hiện nay thấp hơn tiền lương ở khu vực lao động tự do. Tiền lương bậc 1 (hệ số 2,34) của người vừa tốt nghiệp đại học là 50.700 đồng một ngày. Trong khi lao động tự do, lao động nông nghiệp có thể kiếm được thu nhập từ 80.000 đến 120.000 đồng một ngày để làm những công việc như cấy, gặt lúa, hoặc bốc vác mà không bị ràng buộc và yêu cầu khắt khe về trình độ chuyên môn.
Ngành hàng không đang có thu nhập cao. Ảnh: Hoàng Hà.
Theo Bộ Lao động, cả nước có hơn 44 triệu người trong độ tuổi lao động. Trong số có việc làm thì trên 70% là không ổn định, dễ bị tổn thương, dễ rơi vào nghèo đói. Lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất, khoảng 52%.
Tốc độ tăng GDP 6,5-8% mỗi năm đã tạo việc làm cho từ 1,2 đến 1,4 triệu lao động. Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP nhanh và không đều giữa các ngành nghề kinh tế và không dự báo sớm nên gây ra tình trạng dư thừa lao động nông nghiệp, nhưng lại thiếu hụt ở khu vực công nghiệp và dịch vụ; dư thừa lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật.
Hệ quả, nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động. Đồng Nai hằng năm thiếu khoảng 20.000 lao động, TP HCM từ đầu năm đến nay có hơn 23.000 người mất việc, nhưng nhu cầu tuyển dụng lên tới 61.000...
Để giải bài toán trên, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đề xuất nhiều giải pháp, trong đó có nâng cao thể lực, cải cách nòi giống đảm bảo đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hiện đại; phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, cấp trình độ; phát triển doanh nghiệp thu hút nhiều lao động.
Bộ cũng cho rằng, cần tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị trường, thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao động, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao.
Tháng 11 vừa qua, Berkshire tuyên bố mua thêm 77% cổ phần của Burlington với giá 26,3 tỷ USD. Đây là thương vụ lớn nhất mà Buffett từng thực hiện.
Trong số 10 thương vụ kinh doanh xuất sắc nhất năm 2009, có tới hai thương vụ của nhà đầu tư huyền thoại Buffett
Trong số 10 thương vụ kinh doanh mà tạp chí Time của Mỹ bình chọn xuất sắc nhất năm 2009, có tới hai thương vụ của nhà đầu tư huyền thoại Buffett.
Dưới đây là danh sách 10 thương vụ này:
1. Buffett mua cổ phần trong Goldman Sachs
Vào ngày 24/9/2008, giữa lúc cả thế giới tài chính đang trong cơn hoảng loạn, tỷ phú Warren Buffett đã đạt thỏa thuận với Goldman về việc mua lại cổ phần của ngân hàng này (Time giải thích, thương vụ này bắt đầu từ năm 2008, nhưng việc thanh toán được hoàn tất vào năm 2009 nên được tính là một thương vụ của năm 2009). Tập đoàn Berkshire Hathaway của Buffett trả 5 tỷ USD để mua cổ phiếu ưu đãi của Goldman với lợi tức hàng năm 10%, cộng thêm số chứng quyền để mua 43,5 triệu cổ phiếu cổ thông của Goldman với giá 115 USD/cổ phiếu.
Một năm sau đó, nếu bán đi, thì riêng lượng chứng quyền trên đã có thể đem về cho Buffett, người giàu thứ nhì thế giới hiện nay, 3 tỷ USD lợi nhuận. Tuy nhiên, Buffett vẫn giữ số chứng quyền này vì tin rằng giá cổ phiếu của Goldman sẽ còn tăng cao hơn trước khi chứng quyền hết hạn vào năm 2012.
Một thương vụ tương tự giữa Berkshire và tập đoàn General Electric (GE) tuy không thành công rực rỡ như vụ mua lại cổ phần của Goldman, nhưng vẫn đem lại lợi nhuận tương đối cho Buffett. Với chiến lược mua vào khi tất cả đang bán ra, và giành được những điều khoản có lợi hơn nhiều so với thỏa thuận giữa Bộ Tài chính Mỹ với các ngân hàng đầu tư khác trong kế hoạch giải cứu, “nhà tiên tri của Omaha” lại một lần nữa thắng lớn.
2. Quyết định đứng ngoài khôn ngoan của JPMorgan Chase
Trong thời kỳ bùng nổ của hoạt động chứng khoán hóa, trong đó các khoản nợ địa ốc được tập hợp lại và sử dụng làm tài sản thế chấp cho các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (CDO) được phát hành ra thị trường, vào các năm 2005-2006, JPMorgan Chase đã quyết định đứng bên lề cuộc chơi đầy may rủi này giữa lúc các đối thủ như Citigroup, Merill Lynch và UBS miệt mài tham gia.
Theo một cuốn sách kể lại, mặc dù là một trong những “tác giả” của CDO, nhưng bộ phận nghiệp vụ phái sinh của JPMorgan cho rằng, mức độ rủi ro của sản phẩm này là quá cao. Giám đốc điều hành (CEO) Jamie Dimon nhất trí với quan điểm này.
Sự thận trọng như vậy đã khiến JPMorgan chịu thua về lợi nhuận so với các đối thủ khác trong thời kỳ bong bóng, nhưng đã đem tới “mùa vàng” cho ngân hàng này trong năm nay. Trong 3 quý đầu năm 2009, JPMorgan đạt lợi nhuận 8,5 tỷ USD giữa lúc hầu hết các đối thủ khác đang còn chật vật vì khủng hoảng.
Ông Jamie Dimon, Giám đốc điều hành JPMorgan Chase - Ảnh: Reuters.
3. BB&T thành ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ nhờ mua Colonial
Sau nhiều thập kỷ bị che phủ bởi cái bóng của những “đại gia” ở bang Bắc Carolina như Bank of America (BofA) và Wachovia, ngân hàng Branch Banking & Trust (BB&T) đã nổi lên thành nhà băng thành công nhất của tiểu bang này trong năm 2009. Wachovia đã bị đối thủ Wells Fargo thâu tóm vào năm ngoái, còn BofA còn đang phải giải quyết những rắc rối do tự “mua dây buộc mình” khi thâu tóm Merrill Lynch.
Trong khi đó, BB&T vẫn ăn nên làm ra và phát triển lớn mạnh hơn trước rất nhiều nhờ tiếp quản lại toàn bộ số tài khoản tiền gửi và mua lại các chi nhánh của ngân hàng Colonial Bank - ngân hàng lớn nhất đổ vỡ trong năm 2009 tính tới thời điểm này. Hiện BB&T là ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ xét về giá trị tài sản, đồng thời ở trong tình trạng sức khỏe tài chính tốt hơn hầu hết mọi đối thủ.
Hiện BB&T là ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ xét về giá trị tài sản - Ảnh: Getty Images.
4. Mua Burlington, vụ đầu tư lịch sử của Buffett
Lại là một thương vụ nữa của tỷ phú Warren Buffett. Lần đầu tiên Tập đoàn Berkshire của nhà đầu tư huyền thoại mua cổ phần trong Burlington - công ty vận hành đường sắt lớn nhất nước Mỹ - diễn ra vào năm 2007. Tới tháng 11 vừa qua, Berkshire tuyên bố mua thêm 77% cổ phần của Burlington với giá 26,3 tỷ USD. Đây là thương vụ lớn nhất mà Buffett từng thực hiện.
Ngoài ra, đây được xem là một vụ mua lại kinh điển kiểu Buffett: nghe qua thì không hấp dẫn, nhưng lợi nhuận thu lại thì rất đều. Ngoài ra, vụ mua lại Burlington cũng thu nạp cho Berkshire một gương mặt triển vọng: CEO của Burlington là Matthew K. Rose mới có 50 tuổi và có đủ năng lực để trở thành một ứng cử viên cho ghế CEO của Berkshire một khi Buffett về hưu.
Đáng chú ý nữa, thương vụ này cho thấy, từ chỗ là một quỹ đầu tư rót vốn vào một số ít lĩnh vực kinh doanh, Berkshire đã trở thành một tập đoàn khổng lồ với sự đặt cược lớn vào tương lai của lĩnh vực công nghiệp của nước Mỹ.
Tỷ phú Warren Buffett - Ảnh: Reuters.
5. Khoản vay 23,6 tỷ USD của Ford
Không lâu sau khi được bổ nhiệm vào ghế CEO của hãng xe Ford vào năm 2006, Alan Mulally đã hỏi vay các ngân hàng lớn của Mỹ một khoản lớn. Khi đó, Mulally lý giải, số tiền vay này sẽ là “tấm đệm để bảo vệ Ford trong trường hợp xảy ra suy thoái hoặc có sự cố bất ngờ”.
Và khoản vay này trên thực tế đã tạo ra sự khác biệt giữa Ford và các đối thủ khác trong lần khủng hoảng này. Giữa lúc các đối thủ GM và Chrysler vật vã gõ cửa Washington để xin cứu trợ và rốt cục phải nhường quyền kiểm soát cho Chính phủ Mỹ để đổi lấy sự giải cứu, thì Ford vẫn ung dung tồn tại độc lập. Kết quả, Ford đã vươn lên thành hãng xe mạnh nhất trong ngành công nghiệp ôtô Mỹ và đã bất ngờ báo lãi trong quý 3 vừa qua.
Ford đã vươn lên thành hãng xe mạnh nhất trong ngành công nghiệp ôtô Mỹ - Ảnh: AP.
6. BlackRock mua Barclays Global Investors
Cuộc khủng hoảng tài chính đã mở ra hàng loạt cơ hội “lên đời” cho Larry Fink, CEO của BlackRock, nhà đầu tư trái phiếu luôn biết mình đang làm gì. Trong thời gian khủng hoảng, BlackRock đã được Chính phủ Mỹ dành cho những hợp đồng béo bở như quản lý tài sản xấu của ngân hàng đầu tư sụp đổ Bear Stearn và hãng bảo hiểm suýt đổ vỡ AIG, đánh giá danh mục đầu tư của hai tập đoàn tài chính địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac...
Năm 2009, BlackRock đã có được cơi hội để trở thành tập đoàn quản lý tài sản lớn nhất thế giới khi ngân hàng Barclays của Anh rao bán Barclays Global Investors để huy động vốn. BlackRock ngay lập tức chớp lấy cơ hội mua lại có một không hai này. Và chỉ 21 năm sau khi được Fink thành lập, BlackRock đã đứng trên mọi đối thủ khác ở mảng quản lý tài sản trên toàn cầu.
Lãnh đạo của BlackRock - Ảnh: Bloomberg.
7. HP thoát lỗ nhờ mua EDS
Năm nay chứng kiến những vụ sáp nhập lớn trong làng công nghệ, như vụ Oracle mua Sun Microsystems, Dell mua Perot Systems, Xerox mua Affiliated Computer Services, và HP mua 3Com.
Tuy nhiên, tới thời điểm này, những thương vụ trên chưa thể khẳng định điều gì về vấn đề lợi nhuận. Trong khi đó, vụ HP mua EDS từ năm 2008 đã giúp HP trở thành một đối thủ cạnh tranh ngang tầm với IBM. Nhờ lợi nhuận lớn từ EDS mà HP vượt qua được những khó khăn trong năm 2009 và không rơi vào thua lỗ.
Trụ sở của HP ở Mỹ - Ảnh: Reuters.
8. Google mua AdMob
Giống như các đối thủ, Google đang tìm cách thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực quảng cáo trên điện thoại di động. Đó là lý do Google tung 750 triệu USD để mua AdMob, công ty đi tiên phong trong việc đưa quảng cáo vào các ứng dụng trên chiếc điện thoại iPhone của Apple. “Quả táo” được cho là cũng có ý định mua lại AdMob nhưng chậm chân hơn Google.
AdMob được Omar Hamoui thành lập cách đây 3 năm khi còn đang theo học lấy bằng MBA tại Đại học Pennsylvania.
Google tung 750 triệu USD để mua AdMob - Ảnh: Reuters.
9. Time Warner chia tay AOL
Còn quá sớm để khẳng định việc “ly dị” AOL là một chiến lược khôn ngoan của Time Warner. Tuy nhiên, nếu xét tới việc vụ sáp nhập giữa Time Warner và AOL vào năm 2001 có thể bị xem là thương vụ tệ nhất trong lịch sử, thì vụ chia tay này cũng là việc nên làm.
10. Vụ IPO của Mead Johnson
Đầu năm nay, không ai nghĩ năm 2009 lại là một năm tốt đối với hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Tuy nhiên, thực tế diễn ra đã ngược lại. Thêm vào đó, vụ IPO đầu tiên của năm, vụ IPO của Mead Johnson, có lẽ là vụ phát hành cổ phiếu lần đầu thành công nhất năm nay.
Được thành lập vào năm 1905, Mead Johnson luôn đem lại lợi nhuận ổn định cho những nhà đầu tư thận trọng và kỹ tính. Sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu trên toàn cầu cũng hứa hẹn một thị trường đầy lợi nhuận cho các sản phẩm dinh dưỡng của Mead Johnson. Tới cuối tháng 11 vừa qua, giá cổ phiếu của Mead Johnson đã tăng khoảng 90% so với giá chào sàn 24 USD/cổ phiếu ở thời điểm IPO.
11/2/2009 là ngày Mead Johnson niêm yết cổ phiếu trên sàn New York - Ảnh: AP.
Ngoại trưởng Kuwait Sheikh Mohammad Sabah al-Salem al-Sabah cho biết nước này sẵn sàng trợ giúp Dubai giải quyết khủng hoảng nợ. Tại cuộc họp báo ngày 15/12, sau Hội nghị cấp cao lần thứ 30 của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) tổ chức ở Kuwait City, Ngoại trưởng Kuwait cho biết ông đã khẳng định với Ngoại trưởng Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), ông Sheikh Abdullah bin Zayed, rằng Kuwait sẵn sàng có những hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết cho Dubai.
Ngày 25/11, tập đoàn địa ốc Dubai World và công ty con Nakheel ở Dubai yêu cầu gia hạn thêm 6 tháng để thanh toán khoản nợ 59 tỉ USD, làm dấy lên tâm trạng hoang mang trong khu vực tài chính trên toàn thế giới lo ngại món nợ khổng lồ của tiểu vương quốc lớn nhất UAE này có thể lan sang các khu vực lân cận.
Ngày 14/12, Abu Dhabi, một tiểu vương quốc cũng thuộc UAE tuyên bố trợ giúp khẩn cấp 10 tỉ USD cho Dubai giải quyết khoản nợ của Dubai World./.
(eFinance Online) - Kể từ ngày 15/12/2009, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu sẽ chính thức ngừng trích khoản 1.000 đồng/lít đối với mặt hàng xăng (dành để trả nợ ngân sách Nhà nước).
Được biết, tháng 10/2008, Bộ Tài chính đã tạm ứng từ ngân sách Nhà nước khoản vay 4.038,5 tỷ đồng cho các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu xử lý số lỗ đã phát sinh trong kinh doanh xăng dầu năm 2007 - 2008.
Cụ thể, theo Quyết định số 85 ngày 6/10/2008, Bộ Tài chính tạm ứng từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối tương ứng với số lỗ kinh doanh xăng đến ngày 21/7/2008 do thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước (bao gồm cả số lỗ của năm 2007 nếu có). Hàng tháng, kể từ tháng 10/2008, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối được phép trích từ lợi nhuận trước thuế khoảng 1.000 đồng/lít xăng trên cơ sở số lượng xăng tiêu thụ để trả nợ cho ngân sách Nhà nước khoản vay này.
Sau nhiều lần được gia hạn, tới tháng 11 vừa qua, các doanh nghiệp đều khẳng định đã trả xong nợ.
Đại diện Bộ Tài chính cũng khẳng định đến nay ngân sách Nhà nước đã thu đủ số tiền tạm ứng cho các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu để tự xử lý số lỗ kinh doanh mặt hàng xăng.
Chính vì thế, hôm qua, 15/12/2009, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 17623/BTC-QLG, chính thức công bố rằng kể từ ngày 15/12/2009 các doanh nghiệp ngừng trích khoản 1.000 đồng/lít đối với mặt hàng xăng.
(eFinance Online) - Từ ngày 15/12/2009, Quỹ Bình ổn giá xăng dầu (gọi tắt là Quỹ Bình ổn giá) được trích lập bằng một khoản tiền cụ thể, cố định trong giá cơ sở là 300 đồng/lít (kg) của lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ và được xác định là một khoản mục chi phí trong cơ cấu giá cơ sở của thương nhân đầu mối.
Thương nhân (doanh nghiệp) đầu mối sẽ tạm thời ngừng trích Quỹ khi các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trên mười hai phần trăm (> 12%) so với giá bán hiện hành; hoặc việc tăng giá xăng, dầu có tác động bất lợi đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân;
Đó là một trong những nội dung chính của Thông tư số 234/2009/TT-BCT hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ - CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.
4 trường hợp sử dụng Quỹ
Thương nhân đầu mối được sử dụng Quỹ Bình ổn giá để bình ổn giá xăng dầu trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng từ hơn 7% - 12% so với giá bán lẻ hiện hành, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán tăng trong phạm vi ≤7% cộng thêm 60% của mức chênh lệch giá tính từ tỷ lệ giá cơ sở tăng vượt 7% đến tỷ lệ tăng thực tế trong phạm vi tăng vượt 7 - 12%; 40% còn lại được bù đắp từ Quỹ Bình ổn giá.
Thứ hai, sử dụng Quỹ Bình ổn giá để thực hiện theo quy định tại trường hợp thứ nhất vừa nêu và phù hợp với thời gian tối thiểu giữa 2 lần điều chỉnh giá.
Thứ ba, trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng > 12% so với giá bán hiện hành, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán như trong trường hợp thứ nhất nêu trên. Đối với phần chênh lệch còn lại, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương quyết định công bố các biện pháp bình ổn giá thông qua điều hành chính sách thuế, việc trích lập và sử dụng Quỹ Bình ổn giá và các biện pháp kinh tế hành chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ tư, trường hợp việc tăng giá xăng dầu có tác động bất lợi đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương quyết định công bố các biện pháp bình ổn giá thông qua điều hành chính sách thuế, việc trích lập và sử dụng Quỹ Bình ổn giá và các biện pháp kinh tế hành chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thương nhân đầu mối có trách nhiệm hạch toán đầy đủ, chính xác khoản trích lập Quỹ Bình ổn giá vào giá vốn hàng bán. Kết thúc năm tài chính, Quỹ Bình ổn giá có kết dư, Thương nhân đầu mối được phép kết chuyển sang năm sau.
Định kỳ vào ngày 30 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, Thương nhân đầu mối phải gửi báo cáo đến Bộ Tài chính, Bộ Công Thương về tình hình trích lập, sử dụng và số dư của Quỹ Bình ổn giá của quý trước. Trong trường hợp đặc biệt, Thương nhân đầu mối phải gửi báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tài chính.
** Một số khái niệm trong Thông tư 234:
- Giá xăng dầu thế giới là giá xăng dầu thành phẩm được giao dịch trên thị trường quốc tế theo công bố của Tờ Platt's Singapore.
- Giá cơ sở là giá để hình thành giá bán lẻ xăng dầu bao gồm các yếu tố và được xác định bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu thụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Chi phí kinh doanh định mức cộng (+) Quỹ Bình ổn giá (+) Lợi nhuận định mức trước thuế cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng (+) Phí xăng dầu cộng (+) Các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Giá cơ sở được tính bình quân của số ngày dự trữ lưu thông quy định tại Điều 22 Nghị định 84/2009/NĐ-CP.
- Giá CIF là giá xăng dầu thế giới cộng (+) Phí bảo hiểm cộng (+) Cước vận tải về đến cảng Việt Nam;
- Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu (chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) trong nước của các thương nhân đầu mối (đã bao gồm chi phí giành cho Tổng đại lý, đại lý) để tính giá cơ sở theo mức tối đa, trong đó:
+ Chi phí bán lẻ bình quân giữa các vùng trong cả nước đối với xăng, dầu điêzen, dầu hoả tối đa: 600 đồng/lít;
+ Chi phí bán buôn bình quân giữa các vùng trong cả nước đối với dầu madut tối đa: 400 đồng/kg.
Các mức chi phí kinh doanh định mức tối đa trên sẽ được Bộ Tài chính Thông báo điều chỉnh phù hợp với thực tế kinh doanh của các thương nhân đầu mối trong từng thời kỳ.
- Lợi nhuận định mức trước thuế là lợi nhuận kinh doanh xăng dầu trong nước của các thương nhân đầu mối để tính giá cơ sở theo mức tối đa là: 300 đồng/lít, kg và sẽ được Bộ Tài chính Thông báo điều chỉnh phù hợp với thực tế kinh doanh của các thương nhân đầu mối trong từng thời kỳ.
Dù nhận được 10 tỷ USD tiền cứu trợ từ Abu Dhabi, nhưng Dubai vẫn nặng gánh nợ nần - Ảnh: Reuters.
Tung 10 tỷ USD cho Dubai World, Abu Dhabi thể hiện rõ quyết tâm thắt chặt sự quản lý mà từ lâu Dubai muốn kháng lại
Với việc tung “phao cứu sinh” trị giá 10 tỷ USD cho tập đoàn Dubai World vào ngày 14/12 vừa qua, Abu Dhabi đã đem đến cho “người láng giềng” Dubai một liều thuốc giải ngắn hạn trước sức ép của các chủ nợ. Tuy nhiên, với động thái như vậy, Abu Dhabi cũng thể hiện rõ quyết tâm muốn thắt chặt sự quản lý mà từ lâu Dubai muốn kháng lại.
Trong nhiều thập kỷ qua, Dubai đã thành công trong việc duy trì quyền tự trị đặc biệt trong Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Trong khi đó, Abu Dhabi vừa là trung tâm văn hóa-chính trị của UAE, vừa nắm giữ những lĩnh vực quan trọng nhất trong nền chính trị của UAE như ngoại giao và quốc phòng.
Quyền tự trị của Dubai đã giúp tiểu vương quốc không có nhiều tài nguyên dầu lửa này thúc đẩy một chiến lược phát triển kinh tế khác biệt so với những nước láng giềng khác trong UAE. Cánh cửa của Dubai rộng mở với tất cả mọi đối tượng, từ những chủ doanh nghiệp từ Iran và Israel, tới khách du lịch và những ông chủ nhà băng khao khát lợi nhuận từ phương Tây. Theo số liệu mà tờ New York Times đưa ra, 90% dân số ở Dubai là người nước ngoài.
Bất động sản và du lịch là hai ngành kinh tế mũi nhọn của Dubai, đóng góp 95% GDP của nước này trong năm 2008. Đặc biệt, với sự phát triển với tốc độ vào hàng nhanh nhất thế giới của ngành địa ốc, Dubai là địa chỉ của những tòa tháp cao nhất thế giới và những công trình có một không hai như dốc trượt tuyết trong nhà, đảo nhân tạo hình lá cọ...
Tuy nhiên, khoản nợ xấp xỉ 100 tỷ USD mà Chính phủ và các doanh nghiệp của Dubai tích tụ trong quá trình phát triển kinh tế bùng nổ đã cho thấy sự phát triển này là không bền vững.
Trên thực tế, một số nhà phân tích cho rằng, việc Dubai tuyên bố xin hoãn nợ 26 tỷ USD cho Dubai World hồi tháng trước có lẽ chính là quyết định cuối cùng mang tính “tự trị” mà tiểu vương quốc này đưa ra. Từ sau tuyên bố này, đặc biệt là sau gói hỗ trợ của Abu Dhabi, nhiều khả năng Dubai sẽ khó tự quyết được những vấn đề liên quan tới số phận của của mình.
Hiện còn chưa rõ lý do nào khiến Abu Dhabi đưa ra quyết định hỗ trợ Dubai. Tuy nhiên, theo một nguồn tin thân cận, quyết định này là kết quả của sự liên lạc thường xuyên trong mấy tuần qua giữa Tiểu vương của Dubai là Mohammed bin Rashid al-Maktoum và người anh họ của ông là Khalifa bin Zayed al-Nahyan - Tổng thống UAE.
Cũng theo nguồn tin này, những cuộc thảo luận về bản chất vấn đề nợ nần của Dubai giữa các nhà lãnh đạo trên đã khởi đầu cho sự tăng cường liên lạc và minh bạch hóa thông tin giữa các tiểu vương quốc trong UAE, và đây là một dấu hiệu cho thấy, từ nay trở đi, Abu Dhabi sẽ giám sát chặt chẽ hơn các quyết định của Dubai trong lĩnh vực tài chính và cả những lĩnh vực khác.
Sự ràng buộc về huyết thống cũng sẽ giúp phục vụ cho công tác này. Không chỉ hai tiểu vương đứng đầu Dubai và Abu Dhabi cùng là người của bộ lạc Bani Yas - những người đầu tiên định cư trên miền hoang mạc này từ thế kỷ 18 - mà hai bên còn có những mối liên kết thông qua con đường hôn nhân. Con gái Tiểu vương Mohammed của Dubai mới đây đã kết hôn với Mansour bin Zayed al-Nahyan, em cùng cha khác mẹ của Tiểu vương Khalifa của Abu Dhabi, đồng thời là một thành viên của Chính phủ UAE.
Bên cạnh đó, khoản nợ của Dubai World không chỉ đe dọa Dubai mà còn là một mối nguy với cả UAE, khiến Chính phủ UAE không thể khoanh tay đứng nhìn. Các chủ nợ của tập đoàn này đã tuyên bố họ có đủ khả năng buộc Dubai World vỡ nợ rồi giành lấy những tài sản trị giá nhất của Dubai, cũng là của UAE, bao gồm các cảng biển của Dubai.
Dù nhận được 10 tỷ USD tiền cứu trợ từ Abu Dhabi, nhưng Dubai vẫn nặng gánh nợ nần. Theo một nghiên cứu của Công ty EFG Hermes có trụ sở ở Dubai, tiểu vương quốc này sẽ đáo hạn phải thanh toán 60 tỷ USD tiền nợ trong vài năm tới, trong đó có hơn 16 tỷ là nợ của Chính phủ Dubai, còn lại là nợ của các doanh nghiệp.
Ông Lương Hoài Nam, nguyên tổng giám đốc Hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific Airlines đã không thể làm thủ tục xuất nhập cảnh trên chuyến bay sáng nay từ TP HCM đi Lào.
Một nguồn tin có thẩm quyền cho biết, ông Nam bị yêu cầu không xuất ngoại trong thời gian này để xác minh một số vấn đề liên quan đến Jetstar Pacific Airlines trong thời gian ông đương chức.
Phía Cục Xuất nhập cảnh đã xác nhận thông tin trên nhưng không tiết lộ cơ quan đưa ra yêu cầu.
Ông Lương Hoài Nam (bên phải) cùng cộng sự người Australia trong buổi giới thiệu thương hiệu gây nhiều tranh cãi - Jetstar Pacific Airlines. Ảnh: JPA.
Sau khi làm một số thủ tục tại sân bay, lúc 12h trưa nay, ông Lương Hòai Nam đã về nhà. Trao đổi với VnExpress.net, ông cho biết hoàn toàn bất ngờ khi không được phép xuất cảnh. Ông Nam cũng đoán rằng việc này có thể liên quan tới kết quả kiểm toán Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), trong đó có khoản lỗ tại Jetstar Pacific Airlines, nơi SCIC đang là đại diện vốn nhà nước.
"Nếu đúng như vậy tôi ủng hộ và mong được cùng Hội đồng quản trị Jetstar Pacific Airlines và SCIC làm rõ mọi vấn đề càng sớm càng tốt. Tôi hoàn toàn hiểu công việc của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và hợp tác với họ trên tinh thần tôn trọng pháp luật của người công dân sau khi tôi đã từ chức Tổng giám đốc Jetstar Pacific", ông Lương Hoài Nam nói.
Tuy nhiên, chiều nay, SCIC khẳng định không có bất cứ văn bản nào liên quan đến việc yêu cầu ông Lương Hoài Nam không được xuất ngoại.
Ông Nam đã gắn bó với hãng hàng không JPA từ thời kỳ đầu, khi hãng còn non trẻ và chưa đổi tên là Pacific Airlines. Đến nay, Jetstar Pacific Airlines đã trưởng thành vượt bậc khi 6 tháng đầu năm, gần 1 triệu lượt khách bay, tăng 30% về số lượng so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 7/2009, hãng bắt đầu kinh doanh có lãi.
Tuy nhiên, hồi giữa tháng 10, ông Lương Hoài Nam có đơn xin thôi chức Tổng giám đốc Hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines và đã được Hội đồng quản trị hãng và SCIC - cổ đông lớn nhất chấp nhận. Thế nhưng, sau khi ông Nam rời khỏi vị trí đã xảy ra rất nhiều vấn đề liên quan đến Jetstar Pacific. Trong khi những tranh cãi về thương hiệu chưa được giải quyết thì hãng hàng không giá rẻ này lại bị kỹ sư người nước ngoài tố cáo chuyện hãng bỏ qua một số quy trình bảo dưỡng máy bay. Gần đây nhất, cơ quan kiểm toán phát hiện ban lãnh đạo Jetstar Pacific hưởng lương quá cao trong khi hãng làm ăn thua lỗ và chưa hết khó khăn. Đồng thời, kiểm toán cũng yêu cầu làm rõ các vấn đề liên quan đến khoản lỗ 31 triệu USD trong quá trình mua xăng dự trữ của hãng.
Từ kết quả này, kiểm toán yêu cầu SCIC và Jetstar Pacific làm rõ trách nhiệm cá nhân và tập thể liên quan đến các vấn đề kể trên.
Điều 14, Nghị định của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân VN
1. Công dân Việt Nam chưa được phép xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang có nghĩa vụ thi hành bản án hình sự hoặc đang bị cơ quan điều tra yêu cầu chưa cho xuất cảnh hoặc chưa cấp hộ chiếu để phục vụ công tác điều tra tội phạm.
b) Người đang có nghĩa vụ thi hành bản án, chờ để giải quyết các tranh chấp về dân sự, kinh tế, hành chính, chờ để thi hành quyết định xử phạt hành chính, đang có nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản, bảo lãnh bằng tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.
c) Người đã vi phạm quy chế xuất nhập cảnh bị xử phạt từ cảnh cáo hành chính trở lên thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 01 đến 05 năm tính từ ngày bị xử lý vi phạm.
d) Người bị nước ngoài trục xuất vì vi phạm pháp luật của nước sở tại, nếu hành vi đó là nghiêm trọng, có hại cho lợi ích và uy tín của Việt Nam thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 01 đến 05 năm, tính từ ngày trở về Việt Nam.
đ) Người mà Bộ Y tế đề nghị chưa cho xuất cảnh vì lý do y tế.
e) Các trường hợp khác vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Các doanh nghiệp xuất khẩu đang chạy nước rút để thực hiện các đơn hàng cuối năm.
Kiểm tra chất lượng thanh long trước khi đóng gói xuất khẩu tại Công ty Yasaka (Bình Dương) - Ảnh: Trần Mạnh
Chưa bao giờ doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt với một năm đầy khó khăn như thế dù Nhà nước đã có một loạt chính sách hỗ trợ.
Tăng lượng bù giá
Tại Công ty CP thủy hải sản Minh Phú những ngày này ai nấy đều hối hả khi những lô hàng xuất khẩu cuối cùng trong năm sang Hàn Quốc và Nhật Bản đến hạn phải giao. Ông Lê Văn Quang, tổng giám đốc Công ty Minh Phú, cho biết do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên giá tôm đông lạnh xuất khẩu hồi đầu năm giảm mạnh.
Nửa cuối năm giá tôm có tăng lại được 10% ở thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và 5% tại thị trường Mỹ nhưng doanh nghiệp lại đối mặt với việc thiếu nguyên liệu. Năm nay, dù sản lượng xuất khẩu của Minh Phú tăng 20% so với kế hoạch nhưng giá trị chỉ đạt 160 triệu USD, tương đương năm 2008.
Kỷ lục xuất khẩu gạo
Theo Hiệp hội Lương thực VN, đến hết tháng 11-2009, VN đã xuất khẩu hơn 5,7 triệu tấn gạo, tăng hơn 700.000 tấn so với năm 2008, trị giá khoảng 2,3 tỉ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu gạo tăng 34,4% về lượng, dự kiến cả năm có thể đạt mức 6 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), đến giữa tháng 11 xuất khẩu tôm đông lạnh đạt 1,43 tỉ USD, tăng 7% về khối lượng. Ông Trương Đình Hòe, tổng thư ký VASEP, cho hay ban đầu kế hoạch xuất khẩu của ngành thủy sản trong năm 2009 là 4,5 tỉ USD (bằng năm 2008) nhưng do tình hình không khả quan nên hiệp hội hạ chỉ tiêu còn 4,4 tỉ USD.
“Số liệu mới nhất cho thấy xuất khẩu thủy sản năm nay chỉ đạt khoảng 4,2 tỉ USD” - ông Hòe ước tính. Dù vậy, con số này cũng khả quan vì hồi tháng 4, VASEP nhận định xuất khẩu tôm đông lạnh sẽ giảm khoảng 30%.
Rau quả, chè được giá
Điểm sáng trong xuất khẩu nông sản năm nay là mặt hàng rau quả và chè gia tăng cả khối lượng và giá trị. Theo Hiệp hội Rau quả VN (Vinafruits), sáu tháng đầu năm nay doanh thu từ xuất khẩu rau quả của nhiều doanh nghiệp giảm 20-30%. Nhưng sau đó đơn hàng đã tăng lên, đặc biệt là các loại rau quả chế biến như nước quả cô đặc, rau quả puree, dứa khoanh hộp, vải thiều nước đường, chanh dây cô đặc...
“Với nhịp độ phục hồi thị trường như hiện nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả cả năm 2009 có khả năng đạt hơn 400 triệu USD, tương đương năm 2008” - ông Nguyễn Văn Kỳ, tổng thư ký Vinafruits, cho biết.
Mặt hàng chè cũng làm nên chuyện khi tính đến hết tháng 11-2009, kim ngạch đạt hơn 159 triệu USD, tăng 24,4% về lượng và tăng 16,2% về kim ngạch. Chè là mặt hàng duy nhất thu được thắng lợi trong tất cả các tháng của năm nay do nhu cầu tăng khá nhờ thị hiếu tiêu dùng thay đổi và nguồn cung lại giảm.
Còn ông Phạm Xuân Hồng, phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), đầy kỳ vọng dệt may sẽ đem về khoảng 1 tỉ USD cho tháng cuối cùng của năm 2009, đưa ngành dệt may vươn lên vị trí đứng đầu xuất khẩu của cả nước với tổng kim ngạch ước đạt trên 9 tỉ USD.
Năm 2010 khả quan hơn
Có hợp đồng nhưng vẫn lo
Ngành da giày vẫn dè chừng khi mức thuế 10% chống phá giá giày mũ da xuất khẩu sang châu Âu chưa rõ sẽ được bỏ hay duy trì. Do vậy, dù đã ký được các hợp đồng cho hai tháng đầu năm 2010, nhưng các doanh nghiệp chưa yên lòng khi nỗi lo về thuế vẫn còn đó.
Dù bị ảnh hưởng nặng nề trong năm 2009 nhưng các doanh nghiệp ở một số ngành hàng đều nhận định tình hình kinh doanh năm 2010 sẽ khả quan hơn khi nền kinh tế thế giới vượt qua suy thoái và bắt đầu hồi phục.
Hầu hết các hiệp hội ngành hàng đều chưa đưa ra kế hoạch xuất khẩu cho năm sau vì còn cân nhắc khả năng thực hiện cũng như các “kịch bản” đối phó với diễn biến thị trường, vốn vẫn rất nhạy cảm và phức tạp.
Với ngành nhựa, ông Phạm Trung Cang - phó chủ tịch Hiệp hội Nhựa VN - cho hay nguy cơ xuất khẩu tụt giảm trong năm sau là rất lớn khi mặt hàng chủ lực của ngành là túi nhựa PE xuất khẩu sang Mỹ hiện tạm bị áp thuế phá giá và chống trợ cấp, trong đó mức thuế chống phá giá rất cao, trung bình trên 52%.
Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều ngành hàng xem năm 2010 sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp gia tăng lượng xuất khẩu. Với mặt hàng rau quả, ông Nguyễn Văn Kỳ nhận định giá các mặt hàng rau quả sẽ tăng cùng với đà hồi phục kinh tế của thế giới nên xuất khẩu trong năm tới có nhiều khả quan. Với tôm đông lạnh xuất khẩu, ông Lê Văn Quang cho rằng giá sẽ vẫn giữ ở mức cao cho đến tháng 5 năm sau.
Còn ông Phạm Xuân Hồng khẳng định dệt may đang lấy lại đà cho khả năng tăng trưởng vào năm sau khi phần lớn các doanh nghiệp đều đã đầy ắp đơn hàng ký đến hết quý 2-2010, trong đó giá thực hiện hợp đồng tăng ít nhất trên 5% so với giá chào năm ngoái.
Thị trường chứng khoán Mumbai với mức giao dịch cổ phiếu tăng 76% kể từ đầu năm cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục của Ấn Độ là nguyên nhân chính khiến "hầu bao" của các "đại gia" nước này thêm nặng - Ảnh: Getty Images.
Chủ tịch Ngân hàng thế giới Robert Zoellick nhận định, nền kinh tế Ấn Độ đang có dấu hiệu phục hồi
Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) Robert Zoellick nhận định, nền kinh tế Ấn Độ đang có dấu hiệu phục hồi, thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu và trở thành một cực tăng trưởng mới của nền kinh tế thế giới.
Theo Chủ tịch WB R.Zoellick, Ấn Độ đang là một đối tác không thể thiếu của các cuộc đối thoại toàn cầu.
Tăng cường ảnh hưởng
Tiếng nói của nước này tại bàn thương lượng G-20 có sức mạnh quan trọng đối với việc thiết kế một cấu trúc kinh tế toàn cầu trong tương lai vì Ấn Độ không chỉ đang xử lý tốt ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà còn hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế thế giới. Vị thế một cường quốc kinh tế đang trỗi dậy của Ấn Độ gắn chặt với cách thức Ấn Độ tạo ra cơ hội và tầm bao quát. Ấn Độ được đánh giá là đang góp phần vào tăng trưởng kinh tế thế giới một cách mạnh mẽ và mới mẻ.
Chủ tịch WB nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của Ấn Độ cũng được phản ánh qua các chỉ số kinh tế với tốc độ tăng trưởng 8-9 %/năm trong những năm gần đây. Nhiều chuyên gia hy vọng nước này không chỉ trở thành một thị trường mà còn trở thành nhà cung cấp hàng loạt các dịch vụ và hàng hóa có hàm lượng tri thức cao.
Trong quý 3 năm nay, Ấn Độ đạt tăng trưởng kinh tế 7,9%; tăng 1,8% so với quý 2 và vượt tỷ lệ dự đoán 6,3% mà giới phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức tăng trưởng kinh tế cao nhất của quốc gia Nam Á này trong 18 tháng qua, nhờ sản lượng công nghiệp và chi tiêu của người tiêu dùng tăng do được hỗ trợ bởi các chương trình kích thích kinh tế, cắt giảm lãi suất và thuế để khuyến khích chi tiêu.
Nhà kinh tế thuộc Liên đoàn các Phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ (FICCI) Anjan Roy cho biết, năm nay giới doanh nghiệp đã vững tin hơn vào triển vọng kinh tế của Ấn Độ so với năm 2008. Kinh tế Ấn Độ đã xoay chiều, tăng trưởng trở lại, bất chấp sản lượng nông nghiệp sụt giảm do hạn hán.
Dự đoán, GDP của Ấn Độ trong cả năm 2009 sẽ vượt mức 7% và có khả năng đạt 9% trong năm tài chính tới. Vừa qua, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã mua của IMF 200 tấn vàng, trị giá 6,7 tỷ USD, nhằm củng cố nguồn tài chính trong nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vượt 100 tỉ USD
Mạng "Tin nhanh tài chính" của Ấn Độ cho biết, đầu tư FDI vào nước này từ năm 2000 đến tháng 7/2009 đã đạt 100,33 tỉ USD. Riêng 4 tháng đầu của tài khóa 2009-2010, FDI đã đạt 10,49 tỉ USD. Các nhà đầu tư lớn vào Ấn Độ là Singapore, Mỹ, Anh và Hà Lan.
Tổng thư ký Liên đoàn các Phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ FICCI Amit Mitra đánh giá, FDI mang lại công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý cho Ấn Độ. Còn nhà kinh tế hàng đầu của Ấn Độ D.K Joshi cho rằng dòng FDI đổ vào New Dehli sẽ tiếp tục cải thiện nếu đà phục hồi kinh tế được duy trì.
Mặc dù trong năm qua Ấn Độ ít bị ảnh hưởng của cơn bão tài chính toàn cầu hơn các nước phương Tây, nhưng nhiều công ty đã phải hoãn tăng lương, cấp tiền thưởng và tuyển dụng lao động, do lợi nhuận bị giảm bớt. Hiện nay các lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm, dịch vụ, công nghệ thông tin và bán lẻ tại Ấn Độ đã tuyển lao động trở lại.
Người đứng đầu công ty tham vấn về nhân lực Manpower India N.Malhan cho biết, Ấn Độ được đánh giá là nước đứng đầu thế giới có số chủ hãng thực sự muốn tuyển lao động cao nhất. Tiếp đến là Brazil, Colombia, Peru, Trung Quốc, Australia và Singapore.
Theo Tạp chí Forbes (Mỹ), số tỷ phú của Ấn Độ đã tăng gần gấp đôi trong một năm qua, từ 27 người lên 52 người, đa số phất lên nhờ sự phục hồi của thị trường chứng khoán thế giới. Thị trường chứng khoán Mumbai với mức giao dịch cổ phiếu tăng 76% kể từ đầu năm cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục của Ấn Độ là nguyên nhân chính khiến "hầu bao" của các "đại gia" nước này thêm nặng.
Ấn Độ được đánh giá là một trong những nước có tốc độ "sản xuất" tỷ phú nhanh nhất thế giới với tổng giá trị tài sản của 100 "đại gia" giàu nhất Ấn Độ là 276 tỷ USD. Theo Vneconomy
20 năm liền, Bầu Đức làm việc miệt mài, không có ngày nghỉ. Ông say mê kiếm tiền đến quên cả bản thân như để trả món nợ cuộc đời, trả nợ cho tuổi thơ nghèo khó làm thợ kéo cày tại quê nhà.
Lâu nay bầu Đức không chỉ nổi tiếng với những thương vụ đình đám trong làng bóng đá như mua cầu thủ nổi tiếng Kiatisuk, sở hữu phi cơ... người ta còn biết đến ông với danh hiệu người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2008. Thế nhưng có một bầu Đức khác mà ít ai biết, đó là cậu bé nghèo khổ của mấy chục năm trước, với những trải nghiệm đắng cay đã trở thành ký ức hằn sâu trong con người ông cho đến tận bây giờ.
Đức sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, đông anh em. Mẹ tần tảo làm ruộng nuôi 9 anh em ăn học bằng bữa cơm độn sắn, độn khoai. Cậu bé Đoàn Nguyên Đức ngày ngày dắt trâu ra đồng, thả ước mơ vào bãi ngô xanh và cánh diều no gió. Lúc bấy giờ Đức chỉ có một tâm nguyện duy nhất là có tiền để học, học thật giỏi, đậu đại học và một cái nghề để thoát ra khỏi cuộc sống bần hàn. 10 năm dắt trâu ra đồng, kéo cày, xẻ đất, cái nắng cái gió làm cháy tóc sạm da càng khiến cho Đoàn Nguyên Đức nuôi quyết tâm thoát nghèo.
Khát vọng của bầu Đức là có tên trong danh sách tỷ phú thế giới. Ảnh: Baobongda.
Lớp 12, năm 1982, cậu khăn gói quả mướp vào TP HCM thi đại học, mang theo khát vọng của cả gia đình và những tham vọng từ thuở ấu thơ. Thế nhưng, con đường học vấn không mở ra trước mắt. Năm ấy, Đức trượt đại học… Không nản lòng, cậu lại vùi đầu vào sách vở. Sáng dắt trâu ra đồng, chiều về tranh thủ học bài. Nhưng dù cố gắng đến mấy, Đức vẫn không thể vào được cổng trường đại học. Như một định mệnh, cả 4 lần đi thi Đức đều không đạt kết quả như ý muốn.
Những năm 80, học vấn được coi là thước đo giá trị con người. Nếu không vào đại học cũng đồng nghĩa ước mơ thoát nghèo của cậu bé Đoàn Nguyên Đức chấm dứt và sẽ phải chấp nhận chôn vùi tuổi trẻ tại quê nhà, với con trâu cái cày, nương rẫy và đại ngàn.
“Sau những cú sốc, đau và thừa nhận mình dốt, tôi đã ngửa mặt lên trời và tự nói với bản thân rằng ngã ở đâu tôi sẽ đứng lên ở đó", Đức nhớ lại. Khi ấy, ông nhớ đến hình ảnh của mẹ, người phụ nữ miền sơn cước tần tảo nuôi 9 anh em Đức ăn học. Và ông chợt nhận ra rằng có nhiều con đường để dẫn đến thành công. "Con đường học vấn không mỉm cười với mình thì nên chọn con đường khác. Mọi con sông đều dẫn ra biển lớn, mọi con đường đều chia ra những lối rẽ riêng”, bầu Đức nói.
Thế rồi, cậu thanh niên 22 tuổi khăn gói quả mướp lên đường mang theo nhiệt huyết của tuổi trẻ và khát vọng làm giàu. Không tiền, không học vấn, con đường đầy mịt mù mở ra trước mắt. Lúc bấy giờ, ông không biết sẽ bắt đầu từ đâu và bằng công việc gì. Ông chỉ nhớ rằng mình đã làm đủ mọi nghề để nuôi sống bản thân, để tích góp kinh nghiệm và cố sáng tạo để tìm lối đi riêng. Và cũng chính vì không đạt được ước nguyện bằng con đường học vấn nên Đức chọn con đường khởi nghiệp riêng không qua trường học mà bằng trường đời.
Sau một thời gian làm thuê, Đức tích góp được một khoản tiền đủ để ông mở một phân xưởng nhỏ chuyên đóng bàn ghế cho học sinh tại quê nhà. Ấy là vào năm 1990, ông tự tay cưa, bào đục đẽo để làm ra sản phẩm đầu tiên là chiếc bàn cho học sinh. Sau đó ông mở rộng hoạt động kinh doanh sang sản xuất đồ nội thất rồi nhiều lĩnh vực khác để hình thành nên tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai ngày hôm nay.
Bầu Đức thừa nhận có một nhân vật tỷ phú đã tác động khá mạnh tới tính cách, lối sống, và cách nghĩ suy của ông bây giờ. Đó chính là Bill Gates - tỷ phú người Mỹ khởi nghiệp bằng một chiếc máy tính nhỏ với con đường học vấn dở dang. Ông đã đọc say sưa cuốn sách viết về 100 tỷ phú thế giới, trong đó có nói về tỷ phú thế giới Bill Gates - người giàu thế giới suốt mấy năm liền. Ông có cảm giác như mình có duyên nợ và nét gì đó rất tương đồng với Bill Gates - tỷ phú thành công không bằng con đường học vấn. “Và tôi hiểu rằng trường đại học của tôi chính là đường đời. Đôi khi tôi tự hỏi, nếu không có tuổi thơ cơ cực, và thất bại trong con đường học vấn, chắc gì, tôi đã có ngày hôm nay”, ông Đức nói.
Miền quê Gia Lai của Bầu Đức giờ đã đổi thay nhiều. Đời sống người dân cũng đã nâng lên, căn nhà gỗ gắn bó với tuổi thơ của ông cũng đã được sửa sang, cơi nới. Và cậu thanh niên Đoàn Nguyên Đức từng suốt 10 năm dắt trâu ra đồng kéo cày đẽo đất khi xưa giờ đã là tỷ phú và là người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt năm 2008. Thế nhưng bầu Đức vẫn kiên quyết giữ lại mảnh đất cũ - nơi ông đã từng nếm trải đắng cay, cơ cực. Ông tâm sự: “Ba mẹ tôi vẫn ở quê cách thành phố 20 km. Anh em chúng tôi lớn lên mỗi đứa lập nghiệp một nơi song vẫn quây quần bên ba mẹ những ngày lễ Tết. Quê nghèo nhắc cho tôi rằng phải phấn đấu không ngừng nghỉ. Tôi cảm ơn mảnh đất này”.
Vẫn là hình ảnh cây cau cây dừa, nhưng mỗi lần về thăm quê Bầu Đức lại thấy cảm giác khó tả và cay cay nơi sống mũi. Những kỷ niệm buồn vui xa xưa lại ùa về. “Lúc ấy, tôi lại thấy mình ngày xưa, đang dắt trâu ra đồng chuẩn bị cày trên thửa ruộng sắp vào mùa”, bầu Đức nói.
40 năm qua đi, giờ ông Đức đã có trong tay tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai với giá trị ròng lên tới vài chục nghìn tỷ đồng, một câu lạc bộ bóng đá lừng danh với những chân sút nổi tiếng được mua về. Thế nhưng bầu Đức vẫn không cho phép mình được dừng lại. Ông vẫn làm việc ngày đêm không ngừng nghỉ. Làm việc như thể để trả nợ cuộc đời và một điều lớn lao hơn - ông muốn thực hiện khát vọng của một doanh nhân Việt. Ông muốn làm điều mà nhiều doanh nhân thế giới đang làm.
Và khát vọng cuối cùng của bầu Đức là có tên trong danh sách tỷ phú thế giới chứ không còn đơn thuần là người giàu VN. “Tất nhiên, ước mơ chỉ là ước mơ, tôi tin rằng, tất cả những doanh nhân tâm huyết làm giàu đều mong muốn và phấn đấu vì điều này. Đây không còn là danh dự cá nhân mà còn là niềm tự hào dân tộc”, bầu Đức nói.
Ở cái tuổi ngoại tứ tuần, sự nghiệp đã đạt độ chín, tiền bạc cũng không còn là vấn đề bận tâm, bầu Đức đang dành nhiều thời gian hơn để thực hiện khát vọng của mình. Năm 2008, lần đầu tiên, cổ phiếu của Hoàng Anh Gia Lai được niêm yết trên sàn chứng khoán. Với trên 55% số cổ phiếu sở hữu, bầu Đức trở thành người giàu nhất sàn chứng khoán Việt 2008 do VnExpress.net bình chọn.
Bất chấp khủng hoảng, suy thoái, dưới bàn tay chèo lái của Chủ tịch Đoàn Nguyên Đức, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai vẫn đạt kết quả khá ấn tượng với lợi nhuận 1.700 tỷ đồng năm 2009. Bầu Đức chia sẻ, năm 2008 khi nhìn thấy bức tranh ảm đạm và âm u của nền kinh tế, Hoàng Anh Gia Lai chỉ dám đặt ra mục tiêu lợi nhuận cho năm 2009 ở con số khiêm tốn 1.150 tỷ đồng. Thế nhưng khi lao vào cuộc chiến, ông nhận thấy có rất nhiều cơ hội và có nhiều ngách nhỏ để ông len vào và đạt thành công. “Kết quả thật ấn tượng, chúng tôi đã làm được và đạt tới con số 1.700 tỷ đồng lợi nhuận”, ông Đức chia sẻ.
Ông cho hay trong cuộc đời kinh doanh của mình chưa khi nào đối mặt với khó khăn như năm 2008 và 2009. Thị trường tiền tệ 2008 quá tồi tệ, năm 2009 chưa thoát khỏi khó khăn, hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình cảnh nhìn đâu cũng thấy khó. Bức tranh ảm đạm bao trùm kinh tế của cả thế giới. Bầu Đức rơi vào trạng thái bi quan thực sự, và có lúc ông tính chuyện buông xuôi. Ấy là vào tháng 7/2008, khi chứng kiến cảnh hàng loạt tập đoàn kinh tế lớn của thế giới tuyên bố phá sản. Cứ mỗi sáng mở mắt, đã thấy có 2 doanh nghiệp của Mỹ tuyên bố phá sản hoặc có đơn xin bảo hộ, ông lại thấy hoang mang và cảm giác, khủng hoảng như đang đến sát mình.
Tại VN, doanh nghiệp cũng rơi vào cảnh điêu đứng hàng loạt. Thị trường chứng khoán tụt dốc, chỉ số VN-index dò dẫm tìm đáy, bất động sản đóng băng…, nhiều doanh nghiệp rơi vào cảnh càng kinh doanh càng lỗ. Bầu Đức hiểu rằng, trong bối cảnh như vậy, người tài giỏi lắm cũng không tránh khỏi trạng thái hoang mang và ông đặt Hoàng Anh Gia Lai vào tình trạng khẩn cấp với nhiều kịch bản được đưa ra. Các kế hoạch kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận liên tục được điều chỉnh. Và nhờ những quyết sách đúng, kịp thời nên Hoàng Anh Gia Lai là một trong số những doanh nghiệp sớm thoát ra khỏi khủng hoảng và giữ vững được hoạt động kinh doanh của mình.
Trong kế hoạch kinh doanh năm 2010, Hoàng Anh Gia Lai dự kiến đạt mức tổng lợi nhuận trước thuế từ 2.500 đến 3.000 tỷ đồng. Công ty đang đẩy nhanh triển khai nhiều dự án, chẳng hạn Dự án Khu chung cư An Tiến (Nhà Bè, TP HCM), Riverview, Phú Hoàng Anh, đường Nguyễn Hữu Thọ, TP HCM và nhiều dự án khác ở Đà Nẵng, Đăk Lăk và Gia Lai…
Những sự kiện đáng nhớ và gây sốc của bầu Đức:
1. Mua tiền đạo người Thái Kiatisuk
Năm 2002, Hoàng Anh Gia Lai quyết định đưa tiền đạo số một Đông Nam Á - Kiatisuk về Gia Lai với mức lương khiến giới chuyên môn, người hâm mộ sửng sốt. Thậm chí, đến cả CLB của Thái Lan cũng không tin nổi điều này. Khi bầu Đức sang Thái để đàm phán hợp đồng mua Kiatiasuk, CLB chủ quản của anh còn không thèm tiếp. Bầu Đức phải ở lại Bangkok ròng rã trong hai tháng để tìm mọi cách tiếp xúc và tiến tới ký kết hợp đồng. Bầu Đức nhớ lại chính chân sút người Thái cũng chất vấn rằng "lấy tiền đâu ra mà trả lương". Khi đó, ông chủ của Hoàng Anh Gia Lai lập tức điện về và ra lệnh chuyển số tiền tương đương hai năm lương vào tài khoản của Kiatisuk.
2. Hợp tác với Arsenal và khai trương Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG
Sự nổi tiếng của CLB nước Anh lan tỏa ở Việt Nam và khắp thế giới nhờ những trận đấu ở giải Ngoại hạng. Học viện bóng đá đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng trên phố núi với quy trình đầu tư bài bản cho các tài năng bóng đá trẻ. Những mầm non này sẽ tương lai của bóng đá Việt Nam. Hàng tuần, người yêu bóng đá cả nước được thấy dòng chữ Hoàng Anh Gia Lai Việt Nam chạy trên những banner quảng cáo khắp sân Emirates của Arsenal tại London (Anh).
3. Sở hữu máy bay riêng
Ngày 1/10/2008, chiếc Beechcraft King Air 350, trị giá 7,5 triệu USD chở bầu Đức lần đầu tiên cất cánh trên bầu trời theo đường bay từ Tân Sơn Nhất tới Gia Lai và quay trở lại. Phí hoạt động của chiếc máy bay cá nhân đầu tiên ở Việt Nam có thể lên tới hàng chục nghìn USD mỗi tháng với phí thuê người lái, xăng dầu, phụ phí sân bãi và bảo dưỡng. Chi phí mua máy bay đều do tự bầu Đức chi trả nhưng để phục vụ công việc cá nhân và cả công ty. Tháng 12/2008, Bầu Đức từng dùng Beechcraft King Air 350 để tới Phuket (Thái Lan) xem một trận đấu của tuyển Việt Nam tại AFF Cup 2008.
4. Lên sàn và trở thành người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán
Tháng 12/2008, 190 triệu cổ phiếu (tương đương 1.900 tỷ đồng) của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai niêm yết trên sàn TP HCM. Chủ tịch Đoàn Nguyên Đức nắm giữ 55% cổ phần, tương đương khoảng 104 triệu cổ phiếu.
Với 55% cổ phần trong tập đoàn, ông Đức đã dẫn đầu danh sách những người giàu nhất sàn chứng khoán năm 2008 với 6.160 tỷ đồng cổ phiếu HAG. Ngoài ra, tổng tài sản mà Bầu Đức đang có vào khoảng 11.000 tỷ đồng, chưa bao gồm cổ phiếu. Tài sản của Hoàng Anh Gia Lai bao gồm các lĩnh vực như cao su, thủy điện, khai thác mỏ, sản xuất, kinh doanh khách sạn...