Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Sunday, 20 December 2009

Năm 2010, xuất khẩu của VN sang Mỹ tăng tối thiểu 10%

Ảnh minh họa.
Tham tán Thương mại VN tại Mỹ Ngô Văn Thoan dự báo năm 2010, xuất khẩu của VN sang Mỹ sẽ tăng tối thiểu 10% so với năm 2009.

Một số mặt hàng xuất khẩu chính như dệt may vẫn sẽ giữ được thị trường, giày dép chắc chắn vẫn giữ được đà tăng trên 11% và đồ gỗ nội thất cũng vẫn có nhiều triển vọng.

Theo TTXVN, ông Thoan cho biết trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, trao đổi thương mại Việt - Mỹ trong năm 2009 vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Tính đến tháng 10/2009, kim ngạch xuất khẩu của VN vào Mỹ đạt xấp xỉ 10,3 tỉ USD, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái 2,3%, nhưng đây là mức giảm thấp nhất trong số các nước xuất khẩu vào Mỹ, kể cả những nước có thế mạnh về xuất khẩu như Canada, Đức và Nhật Bản. Trong đó, xuất khẩu của Đức vào Mỹ giảm hơn 34%, Nhật Bản và Canada đều giảm 29%.

(Theo Người Lao động)

Nhập than

Nhập than

Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.


Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế. Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ.

Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ không đủ nguyên liệu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu.

TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm.

Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn. “Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025.

Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang).

Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được.

Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than. TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu.

Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Theo Mạnh Quân
SGTT

Friday, 18 December 2009

Giám đốc một doanh nghiệp nhà nước thu nhập 238 triệu đồng/tháng

Mấy ngày qua, dư luận “dậy sóng” với mức thu nhập 78 triệu đồng/tháng của lãnh đạo một tổng công ty lớn. Nhưng mức thu nhập ấy vẫn chỉ là “muỗi” so với giám đốc một doanh nghiệp nhà nước ở Kiên Giang: Hơn 238 triệu đồng/tháng, tức hơn 2,8 tỷ đồng/năm.
Lương, thưởng lãnh đạo cao ngất trời!

Công ty TNHH Một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang (gọi tắt là Công ty XNK) là DNNN trực thuộc một Tổng Công ty chuyên về lương thực, có trụ sở đặt tại đường Lạc Hồng, TP Rạch Giá. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là lương thực, xăng dầu và chế biến các loại cá cơm xuất khẩu.

Năm 2008, công ty này làm ăn khá suôn sẻ, với tổng lợi nhuận sau thuế là gần 115 tỉ đồng. Tuy nhiên, so với một vài doanh nghiệp khác trên địa bàn Kiên Giang như Công ty XSKT, Công ty Du lịch - Thương mại thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty này không bằng. Dù vậy, mức lương và các khoản thu nhập khác của người lao động và đặc biệt là lãnh đạo công ty rất cao so với các doanh nghiệp khác. Trong đó thu nhập từ lương và các khoản thưởng khác của Giám đốc Quách Thành Công là trên 2,863 tỷ đồng/năm; Chủ tịch công ty Nguyễn Kim Kiên trên 2,163 tỷ đồng.

Cụ thể, Giám đốc Quách Thành Công lương gần 807 triệu đồng, tiền thưởng năm 2008 là hơn 2 tỉ đồng, thưởng khác 12 triệu đồng, tổng cộng thu nhập năm 2008 là trên 2,8 tỉ. Như vậy, thu nhập bình quân hàng tháng trên 238,5 triệu đồng.

Theo Cục Thuế Kiên Giang, thuế thu nhập cá nhân mà ông Công phải nộp năm 2008 trên 1 tỷ đồng, hiện đã nộp trên 771 triệu đồng. Ông Nguyễn Kim Kiên lương trên 758 triệu đồng, thưởng gần 1,4 tỷ đồng, thưởng khác 8 triệu đồng, thu nhập bình quân tháng 180 triệu đồng; thuế thu nhập cá nhân phải nộp trên 763 triệu đồng, đã nộp trên 614 triệu đồng.

“Doanh nghiệp TƯ, Sở không điều tiết được...”

Theo quyết toán chi tiết thuế thu nhập cá nhân của công ty này, năm 2008, công ty có 227 người, trong đó có 4 người không phải nộp thuế thu nhập, số còn lại phải nộp. Trừ giám đốc và chủ tịch công ty có tổng thu nhập cả năm cao ngất ngưởng, còn có 7 vị khác thu nhập cũng rất cao từ trên 545 triệu đồng đến 895 triệu đồng/năm.

Bản quyết toán của công ty cũng thể hiện rõ, năm 2008, ngoài 27 người làm việc tại công ty có mức thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm, số còn lại mức thu nhập từ trên 100 triệu đồng đến hơn 437 triệu đồng. Số này, chủ yếu là công nhân lao động trực tiếp ở các nhà máy, phân xưởng chế biến xuất khẩu gạo và các ngành hàng kinh doanh khác.
Trước mức lương gây sốc này, một luật sư có văn phòng đặt tại TP Rạch Giá nói: “Tôi không ngờ lương của các vị này cao thế, chỉ cần một tháng lương của giám đốc là mua được căn hộ thu nhập thấp mà tỉnh đang rao bán”. Một chủ quán cà phê ở thị trấn Hòn Đất thì nghi ngờ: Lãnh đạo công ty này thu nhập lại cao như thế, không biết họ lấy khoản nào để trả?

Trao đổi với phóng viên về mức lương cao “ngất trời” của lãnh đạo Công ty XNK Kiên Giang, ông Nguyễn Hữu Hùng - Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Kiên Giang - cho biết, do công ty này trực thuộc một Tổng Công ty, đóng trên địa bàn tỉnh nên nằm ngoài tầm của tỉnh khi Sở xây dựng đơn giá tiền lương.

Ông Hùng nói: Không biết Tổng Công ty mẹ dựa vào cơ sở nào mà xây dựng mức lương và tiền thưởng của lãnh đạo doanh nghiệp này cao như thế? Việc này phải hỏi lại Bộ LĐ-TB&XH. Riêng ở Kiên Giang, một số doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hàng năm đóng góp cho ngân sách nhà nước rất lớn như Công ty Xổ số kiến thiết, Công ty Du lịch - Thương mại... nhưng mức thu nhập cả năm (bao gồm lương thưởng) của lãnh đạo doanh nghiệp cũng chỉ trên 300 triệu đồng!

Theo Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, năm 2008, Công ty TNHH một thành viên XNK Kiên Giang chỉ nộp ngân sách khoảng 4,7 tỷ đồng. Với hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng nộp ngân sách như thế, những người lãnh đạo, điều hành công ty này có xứng đáng hưởng mức thu nhập “trên trời” như vậy?

Rất nhiều doanh nghiệp và người lao động ở Kiên Giang tỏ ra bức xúc trước việc này và đề nghị các cơ quan chức năng giải thích, làm rõ, trước hết là lãnh đạo Tổng Công ty “mẹ” của công ty này và Bộ LĐ-TB&XH.

Theo Ngô Văn Tước

Nông thôn ngày nay

Nhà máy chip 1 tỷ USD sắp hoạt động

picture

Ngày 10/11/2006, lãnh đạo UBND Tp.HCM trao giấy phép điều chỉnh dự án nhà máy sản xuất chip (mở rộng diện tích và nâng vốn đầu tư lên 1 tỷ USD) cho đại diện Tập đoàn Intel.

Dự kiến tháng 7/2010 nhà máy chip đầu tiên tại Việt Nam với vốn đầu tư 1 tỷ USD của Intel sẽ đi vào hoạt động

Dự kiến tháng 7/2010 nhà máy chip đầu tiên tại Việt Nam với vốn đầu tư 1 tỷ USD của Intel sẽ đi vào hoạt động.

Thông tin này được đại diện Tập đoàn Intel đưa ra tại cuộc họp báo vừa qua tại Tp.HCM.

Bà Debjani Ghosh, Tổng giám đốc Intel Đông Nam Á và Intel Việt Nam, cho biết, đến thời điểm này, nhiều công đoạn để đưa nhà máy sản xuất chip với số vốn đầu tư lên tới 1 tỷ USD của Intel tại Việt Nam đã được hoàn thành đúng tiến độ. Dự kiến tháng 7/2010, nhà máy sẽ chính thức đi vào hoạt động, đưa ra sản phẩm con chip đầu tiên ở Việt Nam.

Nếu như ban đầu, nhà máy Intel ở Việt Nam dự kiến chỉ sản xuất chip thì nay có thêm dự kiến mới. Intel cho biết, trong tương lai, nhà máy này sẽ sản xuất cả bộ vi xử lý dành cho các thiết bị di động. Trước mắt, các sản phẩm của nhà máy sẽ tập trung ở thị trường nội địa, sau đó hướng tới xuất khẩu.

Năm 2007, Intel bắt đầu khởi động việc xây dựng nhà máy tại Công viên công nghệ cao Sài Gòn với dự kiến, khi triển khai đầy đủ, năng lực sản xuất sẽ đạt 600 triệu con chip mỗi năm và tuyển dụng tới 4.000 nhân công.

Ngoài thông tin dự án trên, bà Debjani Ghosh cũng cho biết, năm 2009, Intel Việt Nam tiếp tục có kết quả kinh doanh khả quan. Dự kiến, tốc độ tăng trưởng doanh thu của hãng tại Việt Nam sẽ đạt mức 25% so với năm 2008.

Trong bước tăng trưởng trên, theo phân tích của Intel, thị trường Việt Nam đang có sự chuyển hướng mạnh trong tiêu dùng các sản phẩm cao cấp. Năm 2009, những sản phẩm cao cấp được bán nhiều hơn tại thị trường này. Cụ thể là lượng máy tính xách tay dự tính tăng tới 55% so với năm 2008 và thị phần cho sản phẩm này là 28%. Năm 2008, lượng máy tính xách tay bán ra khoảng 454.000 chiếc; lượng máy tính để bàn là 1.290.000 chiếc.

Cũng theo Intel, Việt Nam có dân số trẻ và tỷ lệ máy tính trong các hộ gia đình chỉ từ 6%-7%. Đây là một tỷ nhỏ và cho thấy có nhiều cơ hội để cung cấp các dòng máy tính cho các hộ gia đình. Intel dự tính mức tăng trưởng thị trường máy tính tại Việt Nam là 32%/năm, đứng thứ 2 tại châu Á - Thái Bình Dương, sau Indonesia.

“Sự tăng trưởng máy tính đi cùng với yêu cầu kết nối Internet. Hiện, tỷ lệ người đăng ký thuê broadband (băng thông rộng) ở Việt Nam là 2,5 triệu thuê bao, là tỷ lệ rất nhỏ, chiếm gần 3% so với dân số và chúng ta có cơ hội rất lớn. Mục tiêu được đặt ra đến năm 2012 là 30 – 32 triệu thuê bao. Nếu Việt Nam có mạng wifi khắp nơi đến vùng sâu vùng xa và thế hệ mạng thứ 4G – WiMAX triển khai sớm thì sẽ nhanh chóng hoàn thành mục tiêu này”, bà Debjani Ghosh nói.
(Theo Vneconomy)

Wednesday, 16 December 2009

Doanh nghiệp xăng dầu ngừng trích 1.000 đồng/lít xăng trả nợ ngân sách

Ảnh minh hoạ.
(eFinance Online) - Kể từ ngày 15/12/2009, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu sẽ chính thức ngừng trích khoản 1.000 đồng/lít đối với mặt hàng xăng (dành để trả nợ ngân sách Nhà nước).

Được biết, tháng 10/2008, Bộ Tài chính đã tạm ứng từ ngân sách Nhà nước khoản vay 4.038,5 tỷ đồng cho các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu xử lý số lỗ đã phát sinh trong kinh doanh xăng dầu năm 2007 - 2008.

Cụ thể, theo Quyết định số 85 ngày 6/10/2008, Bộ Tài chính tạm ứng từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối tương ứng với số lỗ kinh doanh xăng đến ngày 21/7/2008 do thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước (bao gồm cả số lỗ của năm 2007 nếu có). Hàng tháng, kể từ tháng 10/2008, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối được phép trích từ lợi nhuận trước thuế khoảng 1.000 đồng/lít xăng trên cơ sở số lượng xăng tiêu thụ để trả nợ cho ngân sách Nhà nước khoản vay này.

Sau nhiều lần được gia hạn, tới tháng 11 vừa qua, các doanh nghiệp đều khẳng định đã trả xong nợ.

Đại diện Bộ Tài chính cũng khẳng định đến nay ngân sách Nhà nước đã thu đủ số tiền tạm ứng cho các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu để tự xử lý số lỗ kinh doanh mặt hàng xăng.

Chính vì thế, hôm qua, 15/12/2009, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 17623/BTC-QLG, chính thức công bố rằng kể từ ngày 15/12/2009 các doanh nghiệp ngừng trích khoản 1.000 đồng/lít đối với mặt hàng xăng.

(BM)

Doanh nghiệp trích lập 300 đồng/lít xăng dầu vào Quỹ Bình ổn giá

Ảnh minh hoạ.
(eFinance Online) - Từ ngày 15/12/2009, Quỹ Bình ổn giá xăng dầu (gọi tắt là Quỹ Bình ổn giá) được trích lập bằng một khoản tiền cụ thể, cố định trong giá cơ sở là 300 đồng/lít (kg) của lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ và được xác định là một khoản mục chi phí trong cơ cấu giá cơ sở của thương nhân đầu mối.

Thương nhân (doanh nghiệp) đầu mối sẽ tạm thời ngừng trích Quỹ khi các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng trên mười hai phần trăm (> 12%) so với giá bán hiện hành; hoặc việc tăng giá xăng, dầu có tác động bất lợi đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân;

Đó là một trong những nội dung chính của Thông tư số 234/2009/TT-BCT hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ - CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.

4 trường hợp sử dụng Quỹ

Thương nhân đầu mối được sử dụng Quỹ Bình ổn giá để bình ổn giá xăng dầu trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng từ hơn 7% - 12% so với giá bán lẻ hiện hành, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán tăng trong phạm vi ≤7% cộng thêm 60% của mức chênh lệch giá tính từ tỷ lệ giá cơ sở tăng vượt 7% đến tỷ lệ tăng thực tế trong phạm vi tăng vượt 7 - 12%; 40% còn lại được bù đắp từ Quỹ Bình ổn giá.

Thứ hai, sử dụng Quỹ Bình ổn giá để thực hiện theo quy định tại trường hợp thứ nhất vừa nêu và phù hợp với thời gian tối thiểu giữa 2 lần điều chỉnh giá.

Thứ ba, trường hợp các yếu tố cấu thành biến động làm cho giá cơ sở tăng > 12% so với giá bán hiện hành, thương nhân đầu mối được quyền điều chỉnh giá bán như trong trường hợp thứ nhất nêu trên. Đối với phần chênh lệch còn lại, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương quyết định công bố các biện pháp bình ổn giá thông qua điều hành chính sách thuế, việc trích lập và sử dụng Quỹ Bình ổn giá và các biện pháp kinh tế hành chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ tư, trường hợp việc tăng giá xăng dầu có tác động bất lợi đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương quyết định công bố các biện pháp bình ổn giá thông qua điều hành chính sách thuế, việc trích lập và sử dụng Quỹ Bình ổn giá và các biện pháp kinh tế hành chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thương nhân đầu mối có trách nhiệm hạch toán đầy đủ, chính xác khoản trích lập Quỹ Bình ổn giá vào giá vốn hàng bán. Kết thúc năm tài chính, Quỹ Bình ổn giá có kết dư, Thương nhân đầu mối được phép kết chuyển sang năm sau.

Định kỳ vào ngày 30 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, Thương nhân đầu mối phải gửi báo cáo đến Bộ Tài chính, Bộ Công Thương về tình hình trích lập, sử dụng và số dư của Quỹ Bình ổn giá của quý trước. Trong trường hợp đặc biệt, Thương nhân đầu mối phải gửi báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tài chính.

** Một số khái niệm trong Thông tư 234:

- Giá xăng dầu thế giới là giá xăng dầu thành phẩm được giao dịch trên thị trường quốc tế theo công bố của Tờ Platt's Singapore.

- Giá cơ sở là giá để hình thành giá bán lẻ xăng dầu bao gồm các yếu tố và được xác định bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu thụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Chi phí kinh doanh định mức cộng (+) Quỹ Bình ổn giá (+) Lợi nhuận định mức trước thuế cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng (+) Phí xăng dầu cộng (+) Các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Giá cơ sở được tính bình quân của số ngày dự trữ lưu thông quy định tại Điều 22 Nghị định 84/2009/NĐ-CP.

- Giá CIF là giá xăng dầu thế giới cộng (+) Phí bảo hiểm cộng (+) Cước vận tải về đến cảng Việt Nam;

- Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu (chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) trong nước của các thương nhân đầu mối (đã bao gồm chi phí giành cho Tổng đại lý, đại lý) để tính giá cơ sở theo mức tối đa, trong đó:

+ Chi phí bán lẻ bình quân giữa các vùng trong cả nước đối với xăng, dầu điêzen, dầu hoả tối đa: 600 đồng/lít;

+ Chi phí bán buôn bình quân giữa các vùng trong cả nước đối với dầu madut tối đa: 400 đồng/kg.

Các mức chi phí kinh doanh định mức tối đa trên sẽ được Bộ Tài chính Thông báo điều chỉnh phù hợp với thực tế kinh doanh của các thương nhân đầu mối trong từng thời kỳ.

- Lợi nhuận định mức trước thuế là lợi nhuận kinh doanh xăng dầu trong nước của các thương nhân đầu mối để tính giá cơ sở theo mức tối đa là: 300 đồng/lít, kg và sẽ được Bộ Tài chính Thông báo điều chỉnh phù hợp với thực tế kinh doanh của các thương nhân đầu mối trong từng thời kỳ.

(PV)

Nguyên tổng giám đốc Jetstar Pacific không được xuất ngoại

Ông Lương Hoài Nam, nguyên tổng giám đốc Hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific Airlines đã không thể làm thủ tục xuất nhập cảnh trên chuyến bay sáng nay từ TP HCM đi Lào.

Một nguồn tin có thẩm quyền cho biết, ông Nam bị yêu cầu không xuất ngoại trong thời gian này để xác minh một số vấn đề liên quan đến Jetstar Pacific Airlines trong thời gian ông đương chức.

Phía Cục Xuất nhập cảnh đã xác nhận thông tin trên nhưng không tiết lộ cơ quan đưa ra yêu cầu.

Ông Lương Hoài Nam (bên phải) cùng cộng sự người Australia trong buổi giới thiệu thương hiệu gây nhiều tranh cãi - Jetstar Pacific Airlines. Ảnh: JPA.

Sau khi làm một số thủ tục tại sân bay, lúc 12h trưa nay, ông Lương Hòai Nam đã về nhà. Trao đổi với VnExpress.net, ông cho biết hoàn toàn bất ngờ khi không được phép xuất cảnh. Ông Nam cũng đoán rằng việc này có thể liên quan tới kết quả kiểm toán Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), trong đó có khoản lỗ tại Jetstar Pacific Airlines, nơi SCIC đang là đại diện vốn nhà nước.

"Nếu đúng như vậy tôi ủng hộ và mong được cùng Hội đồng quản trị Jetstar Pacific Airlines và SCIC làm rõ mọi vấn đề càng sớm càng tốt. Tôi hoàn toàn hiểu công việc của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và hợp tác với họ trên tinh thần tôn trọng pháp luật của người công dân sau khi tôi đã từ chức Tổng giám đốc Jetstar Pacific", ông Lương Hoài Nam nói.

Tuy nhiên, chiều nay, SCIC khẳng định không có bất cứ văn bản nào liên quan đến việc yêu cầu ông Lương Hoài Nam không được xuất ngoại.

Ông Nam đã gắn bó với hãng hàng không JPA từ thời kỳ đầu, khi hãng còn non trẻ và chưa đổi tên là Pacific Airlines. Đến nay, Jetstar Pacific Airlines đã trưởng thành vượt bậc khi 6 tháng đầu năm, gần 1 triệu lượt khách bay, tăng 30% về số lượng so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 7/2009, hãng bắt đầu kinh doanh có lãi.

Tuy nhiên, hồi giữa tháng 10, ông Lương Hoài Nam có đơn xin thôi chức Tổng giám đốc Hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines và đã được Hội đồng quản trị hãng và SCIC - cổ đông lớn nhất chấp nhận. Thế nhưng, sau khi ông Nam rời khỏi vị trí đã xảy ra rất nhiều vấn đề liên quan đến Jetstar Pacific. Trong khi những tranh cãi về thương hiệu chưa được giải quyết thì hãng hàng không giá rẻ này lại bị kỹ sư người nước ngoài tố cáo chuyện hãng bỏ qua một số quy trình bảo dưỡng máy bay. Gần đây nhất, cơ quan kiểm toán phát hiện ban lãnh đạo Jetstar Pacific hưởng lương quá cao trong khi hãng làm ăn thua lỗ và chưa hết khó khăn. Đồng thời, kiểm toán cũng yêu cầu làm rõ các vấn đề liên quan đến khoản lỗ 31 triệu USD trong quá trình mua xăng dự trữ của hãng.

Từ kết quả này, kiểm toán yêu cầu SCIC và Jetstar Pacific làm rõ trách nhiệm cá nhân và tập thể liên quan đến các vấn đề kể trên.

Điều 14, Nghị định của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân VN

1. Công dân Việt Nam chưa được phép xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang có nghĩa vụ thi hành bản án hình sự hoặc đang bị cơ quan điều tra yêu cầu chưa cho xuất cảnh hoặc chưa cấp hộ chiếu để phục vụ công tác điều tra tội phạm.

b) Người đang có nghĩa vụ thi hành bản án, chờ để giải quyết các tranh chấp về dân sự, kinh tế, hành chính, chờ để thi hành quyết định xử phạt hành chính, đang có nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản, bảo lãnh bằng tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

c) Người đã vi phạm quy chế xuất nhập cảnh bị xử phạt từ cảnh cáo hành chính trở lên thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 01 đến 05 năm tính từ ngày bị xử lý vi phạm.

d) Người bị nước ngoài trục xuất vì vi phạm pháp luật của nước sở tại, nếu hành vi đó là nghiêm trọng, có hại cho lợi ích và uy tín của Việt Nam thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 01 đến 05 năm, tính từ ngày trở về Việt Nam.

đ) Người mà Bộ Y tế đề nghị chưa cho xuất cảnh vì lý do y tế.

e) Các trường hợp khác vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Như Quỳnh - Kiên Cường-Vnexpress

Tuesday, 15 December 2009

Xuất khẩu chạy nước rút

Các doanh nghiệp xuất khẩu đang chạy nước rút để thực hiện các đơn hàng cuối năm.

Kiểm tra chất lượng thanh long trước khi đóng gói xuất khẩu tại Công ty Yasaka (Bình Dương) - Ảnh: Trần Mạnh

Chưa bao giờ doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt với một năm đầy khó khăn như thế dù Nhà nước đã có một loạt chính sách hỗ trợ.

Tăng lượng bù giá

Tại Công ty CP thủy hải sản Minh Phú những ngày này ai nấy đều hối hả khi những lô hàng xuất khẩu cuối cùng trong năm sang Hàn Quốc và Nhật Bản đến hạn phải giao. Ông Lê Văn Quang, tổng giám đốc Công ty Minh Phú, cho biết do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên giá tôm đông lạnh xuất khẩu hồi đầu năm giảm mạnh.

Nửa cuối năm giá tôm có tăng lại được 10% ở thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và 5% tại thị trường Mỹ nhưng doanh nghiệp lại đối mặt với việc thiếu nguyên liệu. Năm nay, dù sản lượng xuất khẩu của Minh Phú tăng 20% so với kế hoạch nhưng giá trị chỉ đạt 160 triệu USD, tương đương năm 2008.

Kỷ lục xuất khẩu gạo

Theo Hiệp hội Lương thực VN, đến hết tháng 11-2009, VN đã xuất khẩu hơn 5,7 triệu tấn gạo, tăng hơn 700.000 tấn so với năm 2008, trị giá khoảng 2,3 tỉ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu gạo tăng 34,4% về lượng, dự kiến cả năm có thể đạt mức 6 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử.

Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), đến giữa tháng 11 xuất khẩu tôm đông lạnh đạt 1,43 tỉ USD, tăng 7% về khối lượng. Ông Trương Đình Hòe, tổng thư ký VASEP, cho hay ban đầu kế hoạch xuất khẩu của ngành thủy sản trong năm 2009 là 4,5 tỉ USD (bằng năm 2008) nhưng do tình hình không khả quan nên hiệp hội hạ chỉ tiêu còn 4,4 tỉ USD.

“Số liệu mới nhất cho thấy xuất khẩu thủy sản năm nay chỉ đạt khoảng 4,2 tỉ USD” - ông Hòe ước tính. Dù vậy, con số này cũng khả quan vì hồi tháng 4, VASEP nhận định xuất khẩu tôm đông lạnh sẽ giảm khoảng 30%.

Rau quả, chè được giá

Điểm sáng trong xuất khẩu nông sản năm nay là mặt hàng rau quả và chè gia tăng cả khối lượng và giá trị. Theo Hiệp hội Rau quả VN (Vinafruits), sáu tháng đầu năm nay doanh thu từ xuất khẩu rau quả của nhiều doanh nghiệp giảm 20-30%. Nhưng sau đó đơn hàng đã tăng lên, đặc biệt là các loại rau quả chế biến như nước quả cô đặc, rau quả puree, dứa khoanh hộp, vải thiều nước đường, chanh dây cô đặc...

“Với nhịp độ phục hồi thị trường như hiện nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả cả năm 2009 có khả năng đạt hơn 400 triệu USD, tương đương năm 2008” - ông Nguyễn Văn Kỳ, tổng thư ký Vinafruits, cho biết.

Mặt hàng chè cũng làm nên chuyện khi tính đến hết tháng 11-2009, kim ngạch đạt hơn 159 triệu USD, tăng 24,4% về lượng và tăng 16,2% về kim ngạch. Chè là mặt hàng duy nhất thu được thắng lợi trong tất cả các tháng của năm nay do nhu cầu tăng khá nhờ thị hiếu tiêu dùng thay đổi và nguồn cung lại giảm.

Còn ông Phạm Xuân Hồng, phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN (Vitas), đầy kỳ vọng dệt may sẽ đem về khoảng 1 tỉ USD cho tháng cuối cùng của năm 2009, đưa ngành dệt may vươn lên vị trí đứng đầu xuất khẩu của cả nước với tổng kim ngạch ước đạt trên 9 tỉ USD.

Năm 2010 khả quan hơn

Có hợp đồng nhưng vẫn lo

Ngành da giày vẫn dè chừng khi mức thuế 10% chống phá giá giày mũ da xuất khẩu sang châu Âu chưa rõ sẽ được bỏ hay duy trì. Do vậy, dù đã ký được các hợp đồng cho hai tháng đầu năm 2010, nhưng các doanh nghiệp chưa yên lòng khi nỗi lo về thuế vẫn còn đó.

Dù bị ảnh hưởng nặng nề trong năm 2009 nhưng các doanh nghiệp ở một số ngành hàng đều nhận định tình hình kinh doanh năm 2010 sẽ khả quan hơn khi nền kinh tế thế giới vượt qua suy thoái và bắt đầu hồi phục.

Hầu hết các hiệp hội ngành hàng đều chưa đưa ra kế hoạch xuất khẩu cho năm sau vì còn cân nhắc khả năng thực hiện cũng như các “kịch bản” đối phó với diễn biến thị trường, vốn vẫn rất nhạy cảm và phức tạp.

Với ngành nhựa, ông Phạm Trung Cang - phó chủ tịch Hiệp hội Nhựa VN - cho hay nguy cơ xuất khẩu tụt giảm trong năm sau là rất lớn khi mặt hàng chủ lực của ngành là túi nhựa PE xuất khẩu sang Mỹ hiện tạm bị áp thuế phá giá và chống trợ cấp, trong đó mức thuế chống phá giá rất cao, trung bình trên 52%.

Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều ngành hàng xem năm 2010 sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp gia tăng lượng xuất khẩu. Với mặt hàng rau quả, ông Nguyễn Văn Kỳ nhận định giá các mặt hàng rau quả sẽ tăng cùng với đà hồi phục kinh tế của thế giới nên xuất khẩu trong năm tới có nhiều khả quan. Với tôm đông lạnh xuất khẩu, ông Lê Văn Quang cho rằng giá sẽ vẫn giữ ở mức cao cho đến tháng 5 năm sau.

Còn ông Phạm Xuân Hồng khẳng định dệt may đang lấy lại đà cho khả năng tăng trưởng vào năm sau khi phần lớn các doanh nghiệp đều đã đầy ắp đơn hàng ký đến hết quý 2-2010, trong đó giá thực hiện hợp đồng tăng ít nhất trên 5% so với giá chào năm ngoái.

Nguồn: TRẦN VŨ NGHI - TRẦN MẠNH - Tuổi trẻ

Thí điểm thành lập Tập đoàn Viễn thông Quân đội

picture

Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Viễn thông Quân đội sẽ chính thức được triển khai từ ngày 20/12/2009.

Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Viễn thông Quân đội

Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Viễn thông Quân đội hoạt động theo hình thức công ty mẹ- công ty con, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và các doanh nghiệp đa sở hữu.

Theo Quyết định số 2078- 2079/QĐ-TTg, Tập đoàn Viễn thông Quân đội được thành lập trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Viễn thông quân đội và các đơn vị thành viên.

Theo đó, Tập đoàn (công ty mẹ) là doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và có 5 đơn vị hạch toán trực thuộc; 2 công ty con có vốn điều lệ do Tập đoàn sở hữu 100% vốn; 2 công ty TNHH một thành viên do Tập đoàn sở hữu 100% vốn điều lệ; 7 công ty cổ phần do Tập đoàn nắm giữ 50% vốn điều lệ; 5 công ty liên kết do Tập đoàn sở hữu bằng hoặc dưới 50% vốn điều lệ.

Ngoài ra, tập đoàn còn gồm các công ty TNHH có hai thành viên trở lên và công ty cổ phần khác, công ty liên danh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin có vốn góp của Tập đoàn.

Cũng theo quyết định này, Tập đoàn Viễn thông Quân đội có trách nhiệm gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, tiến tới trở thành một trong những doanh nghiệp chủ đạo về viễn thông và công nghệ thông tin của Việt Nam.

Ngoài quyết định phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Thủ tướng cũng đã quyết định thành lập Công ty mẹ- Tập đoàn Viễn thông Quân đội. Hiện vốn điều lệ của Tập đoàn Viễn thông Quân đội- công ty mẹ là 50.000 tỷ đồng, và là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng 100% vốn Nhà nước, kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của Tổng công ty Viễn thông Quân đội trước đây.

Ngành nghề chính của Tập đoàn là kinh doanh các dịch vụ viễn thông- công nghệ thông tin trong nước và nước ngoài; khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt và bảo dưỡng các công trình viễn thông... Ngoài ra, Tập đoàn còn có thể đầu tư tài chính, kinh doanh vốn và dịch vụ ngân hàng, truyền thông và nội dung thông tin...

Đề án Tập đoàn Viễn thông Quân đội sẽ có hiệu lực triển khai từ ngày 20/12/2009.
Theo Vneconomy

Monday, 14 December 2009

Rục rịch thưởng Tết

Mặc dù đang trong giai đoạn nước rút với nhiều bận rộn để hoàn thành kế hoạch của năm và chuẩn bị phục vụ thị trường Tết, song nhiều doanh nghiệp (DN) nhất là DN có đông công nhân, cũng đã rục rịch chuẩn bị thưởng Tết cho người lao động.

Có làm có thưởng

“Tuy chưa biết chính xác mức thưởng năm nay bao nhiêu nhưng chắc chắn sẽ cao hơn năm ngoái và có khả năng tăng 20%-30%”- Phó TGĐ Công ty CP Kinh Đô (TP.Hồ Chí Minh), ông Lê Phụng Hào nói với Tiền Phong như vậy. Ông cho biết lợi nhuận của công ty năm nay khoảng 500 tỷ đồng, tăng gấp đôi năm ngoái và đó là lý do mức thưởng sẽ cao hơn.

Cũng theo ông Hào, mức thưởng cao nhất của năm ngoái là trên một trăm triệu đồng đối với vị trí lãnh đạo. Với nhân viên, mức thưởng bình quân từ 5 đến 6 triệu và cao nhất là vài chục triệu.

Ông Hào cũng cho biết Kinh Đô có hai khoản thưởng, một là thưởng thâm niên công tác, tức tháng lương thu nhập (tháng lương 13) cho tất cả mọi người, và sẽ thưởng vào giữa tháng 1 năm 2010. Hai là khoản thưởng theo năng suất, sẽ tiến hành vào lúc cận Tết.

Theo ghi nhận của chúng tôi, nhiều doanh nghiệp (DN) đều khẳng định năm nay dù khó khăn đến mấy cũng chuẩn bị tiền thưởng Tết cho công nhân, ít nhất là tháng lương 13 theo luật định và thưởng hết vào trước Tết, không để nợ hoặc giữ lại đến sau Tết mới trả như năm trước.

“Như thế đã là rất tiến bộ” - Phó Chủ tịch Hiệp hội dệt may Việt Nam, ông Phạm Xuân Hồng nhận xét. Ông Hồng cho biết, năm ngoái vì quá khó khăn nên có những DN không đảm bảo thưởng đủ tháng lương 13 cho người lao động.

Với thời giá hiện nay, Tết là mối ưu tư của nhiều công nhân (Ảnh: Đại Dương)

Năm nay, Công ty CP May Sài Gòn 3 vẫn giữ mức thưởng 2 tháng lương như năm ngoái và tính bình quân mỗi người được khoảng 6 triệu đồng, cao hơn năm ngoái 1 triệu đồng.

Ông Lý Ngọc Minh, chủ DN Minh Long 1 (Bình Dương) xác định mức thưởng năm nay đối với toàn bộ 1.800 lao động trong công ty là một tháng lương 13, tính theo trung bình cả năm. Vào những tháng cuối năm hợp đồng nhiều nên công nhân phải làm tăng ca nhiều, từ 3-4 tiếng mỗi ngày (trừ Chủ nhật), do đó thu nhập bình quân của công nhân sẽ tăng lên và vì vậy mức thưởng cũng tăng theo, khoảng trên 3 triệu đồng/người.

Ngoài thưởng, nhiều DN cũng có chính sách hỗ trợ người lao động một khoản tiền tàu xe, đồng thời tổ chức hỗ trợ xe đưa đón công nhân về quê ăn Tết và trở lại làm việc sau Tết.

Cao mà thấp

Theo các chuyên gia, tuy mức thưởng năm nay của nhiều DN có phần cao hơn năm ngoái, song căn cứ theo mức tăng giá trên thị trường thì giá trị thưởng có thể không hơn năm ngoái.

Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh cho biết chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố trong tháng 11 đã tăng 0,55% so với tháng trước. Tính chung từ đầu năm đến nay, chỉ số này có mức tăng 6,45% và nếu so với cách đây một năm thì có mức tăng 6%.

Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, từ nay đến Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng, nhất là thực phẩm có khả năng tăng cao. Nguyên nhân do sức ép của tình hình thời tiết mưa lũ, dịch bệnh diễn biến bất lợi ở nhiều địa phương trong cả nước và nguồn cung về thực phẩm đang có chiều hướng giảm tương đối.

Do chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, những công nhân có mức thu nhập và thưởng thấp thì càng bị thiệt. Nguyễn Thị Xuân Mai, công nhân công ty Tewper ở khu chế xuất Tân Thuận (Q.7, TP.Hồ Chí Minh) cho biết năm nào cũng vậy, tiền thưởng tối thiểu được một tháng lương thu nhập. Ngoài lương ra, công ty còn hỗ trợ một số khoản phụ cấp khác khoảng trên 400 ghìn đồng/người.

Tổng cộng thu nhập của Xuân Mai được gần 1,7 triệu đồng/tháng, điều đó cũng có nghĩa mức thưởng Tết của cô cũng khoảng chừng ấy, cộng thêm vài trăm nghìn đồng phụ cấp tàu xe về quê ăn Tết. Tuy chưa biết đích xác nhưng thưởng năm nay theo Xuân Mai, cũng sẽ không là ngoại lệ.

Chị Tống Thanh Hồng, công nhân Công ty MTEX (KCX Tân Thuận) cũng cho biết cũng như mọi năm công ty thưởng Tết một tháng lương 13, riêng cô được 2 triệu đồng.

Cả Thanh Hồng, Xuân Mai và nhiều công nhân khác đều trong tâm trạng lo lắng Tết này sẽ khó khăn vì lương thưởng có tăng đi nữa nhưng giá cả các mặt hàng gần đây lại có xu hướng nhích dần. Đấy là chưa kể đến cận Tết khi vật giá tăng rất cao thì công nhân mới được nhận thưởng khiến cho giá trị tiền thưởng càng giảm đi.

Đồng Nai: Thưởng Tết cho công nhân không thấp hơn năm trước

Theo Sở Lao động Thương binh - Xã hội tỉnh Đồng Nai, đến nay, trên 20 doanh nghiệp (đa số la doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã có báo cáo về chế độ chính sách tiền lương, thưởng Tết cho công nhân lao động. Theo đó các doanh nghiệp sẽ thưởng Tết từ một đến hai tháng lương cho người lao động, nhiều doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ chi phí đi lại cho công nhân về quê ăn Tết.

Theo ông Đào Ngọc Hoàng, Trưởng phòng Lao động Chính sách Xã hội, Sở Lao động Thương binh - Xã hội Tỉnh Đồng Nai, khoảng 20% doanh nghiệp công bố sẽ xét thưởng Tết cao hơn năm 2008, mức thưởng được công bố từ một đến hai tháng lương.

Đức Minh

Nguồn: Theo Đại Dương - Tiền Phong

Wednesday, 9 December 2009

Petro Vietnam xin cơ chế đặc biệt

picture

Ước tính cả năm 2009, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí sẽ giúp gia tăng trữ lượng đạt trên 70 triệu tấn, tăng 200% so với kế hoạch đề ra.

Petro Vietnam kiến nghị Chính phủ cho cơ chế đặc biệt trong đầu tư các công trình thăm dò khai thác dầu khí ở ngoài khơi

Tại cuộc giao ban sản xuất của Bộ Công Thương vừa qua, đại diện Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petro Vietnam) cho biết Petro Vietnam đã gửi kiến nghị Chính phủ xin cơ chế đặc biệt trong đầu tư các công trình thăm dò khai thác dầu khí ở ngoài khơi.

Theo Petro Vietnam, hiện tập đoàn đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản do chưa thể tự chủ trong lựa chọn nhà thầu và các quyết định kinh doanh.

Trong khi đó, với đặc thù xây dựng các công trình dầu khí ngoài khơi phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, trong nhiều trường hợp, nếu theo đúng trình tự, thủ tục quy định, tập đoàn cũng như các đơn vị thành viên sẽ bị bỏ lỡ cơ hội đầu tư.

Đặc biệt, trong đấu thầu xây dựng các công trình dầu khí, với quy định thuế VAT của doanh nghiệp trong nước tham gia đấu thầu cao hơn 5% so với các doanh nghiệp nước ngoài, các đơn vị thành viên của tập đoàn khó có thể cạnh tranh về giá thầu với các doanh nghiệp nước ngoài; thậm chí phải chịu thua ngay chính trên sân nhà.

Đại diện Petro Vietnam cũng cho biết hiện tập đoàn đang tập trung chỉ đạo quyết liệt để hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được Chính phủ giao.

Ước tính cả năm 2009, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí sẽ giúp gia tăng trữ lượng đạt trên 70 triệu tấn, tăng 200% so với kế hoạch đề ra.

Trong năm 2009, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã mang lại kết quả tốt với 9 phát hiện dầu khí mới (6 phát hiện trong nước và 3 phát hiện ở nước ngoài). Sản lượng dầu thô khai thác đạt 16 triệu tấn, sản lượng khí khai thác đạt 8 tỷ m3, tăng 6,7% so với năm 2008.

(TTXVN)

Lợi nhuận Techcombank vượt mốc 2.000 tỷ đồng

picture

Còn một tháng, Techcombank dự kiến sẽ đạt được kế hoạch lợi nhuận đã điều chỉnh là 2.200 tỷ đồng của năm 2009.

Lợi nhuận lũy kế 11 tháng của Techcombank đã đạt 2.060 tỷ đồng, vượt 10% so với kế hoạch

Tính đến 30/11, lợi nhuận lũy kế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đạt 2.060 tỷ đồng, vượt 10% so với kế hoạch.

Thống báo ngày 9/12 của Techcombank cho biết, riêng trong tháng 11, lợi nhuận của ngân hàng này là 214 tỷ đồng, bằng 136% so với kế hoạch dự kiến.

Cũng đến thời điểm trên, tổng tài sản của Techcombank là 91.125 tỷ đồng, tăng 53% so với 31/12/2008; tổng dư nợ là 42.014 tỷ đồng (tăng 61%); tổng nguồn vốn huy động đạt 79.625 tỷ đồng, tăng 28.320 tỷ đồng so với cuối năm 2008 (tăng 55%). Trong nguồn vốn, huy động từ dân cư tăng 42% (tăng 12.500 tỷ đồng), huy động từ các tổ chức kinh tế tăng gần gấp đôi với mức tăng tuyệt đối so với cuối năm 2008 là 8.700 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc Techcombank, ngoài những dữ liệu trên, các chỉ số kinh doanh chủ chốt tháng 11/2009 vẫn vượt 5% so với tháng trước và vượt so với kế hoạch dự kiến. Và với tình hình hoạt động hiện nay, ông Vinh dự kiến sẽ đạt được kế hoạch lợi nhuận đã điều chỉnh là 2.200 tỷ đồng của năm 2009.
(Theo Vneconomy)

Monday, 7 December 2009

Kiềm chế nhập siêu là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

Bán lại ngoại tệ cho ngân hàng để ngân hàng ổn định nguồn cung ngoại tệ...
(eFinance Online) - Ngày 7/12 tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức giao ban trực tuyến nhằm bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất trong những ngày còn lại. Thứ trưởng thường trực Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu đã chủ trì giao ban.

Xuất khẩu không đạt chỉ tiêu

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, trong tháng 11, với nỗ lực chung của toàn ngành công thương, giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) đạt mức tăng trưởng cao, ước đạt 64,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ năm 2008 (riêng các doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương tăng 13,2% so với tháng 11/2008). Điều đó báo hiệu sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, góp phần hoàn thành nhiệm vụ kinh tế- xã hội năm 2009, góp phần tăng trưởng GDP từ 5 đến 5,2%. Bên cạnh đó, hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Chính trị “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, bằng mọi nỗ lực khai thác thị trường nội địa của các doanh nghiệp (DN) trong lúc kinh tế gặp khó khăn nhưng tổng mức bán lẻ và và dịch vụ trong nước vẫn tăng cao, dự kiến cả năm tăng 18,5%; đảm bảo nhiệm vụ cung- cầu hàng hóa, nhất là những mặt hàng thiết yếu.

Tuy vậy, trong lĩnh vực xuất nhập khẩu (lĩnh vực Bộ Công Thương đảm nhiệm) vẫn gặp khó khăn, xuất khẩu (XK) không đạt như mong muốn. Tháng 11, kim ngạch XK ước đạt 4,7 tỷ USD, giảm 6,5%. Tính chung 11 tháng, xuất khẩu ước đạt 51,3 tỷ USD, giảm 11,6% so với cùng kỳ. Nếu dự kiến tháng 12 xuất khẩu đạt 5,1 tỷ USD thì kim ngạch XK cả năm 2009 cũng chỉ đạt 56,5 tỷ USD, giảm gần 10% so với năm 2008. Trong khi nhập khẩu những tháng cuối năm lại có xu hướng tăng nhanh, tháng 11 ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng 10. Tính chung 11 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 61,72 tỷ USD, giảm 17,8% so với cùng kỳ (tương đương giảm 13,32 triệu USD).

Nếu so với xuất khẩu, nhập siêu 11 tháng là 10,417 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 20,3% kim ngạch XK), vượt quá mục tiêu kiềm chế nhập siêu Quốc hội đặt ra. Vì thế, tại buổi giao ban trực tuyến của Bộ Công Thương, các ý kiến tập trung bàn giải pháp khắc phục nhiệm vụ kiềm chế nhập siêu trong 3 tuần còn lại của tháng 12.

Lí do nhập siêu tăng mạnh?

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, nguyên nhân nhập siêu cao trước hết là do năm nay XK giảm sút mạnh. Một số mặt hàng chủ yếu như dầu thô và khoáng sản tăng 13% về lượng nhưng giảm 11,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008. Nguyên nhân chủ yếu là do giá xuất khẩu của các mặt hàng này giảm so với cùng kỳ: giá bình quân của dầu thô giảm 43,48%, xăng dầu giảm 42,09%, quặng và các khoáng sản khác giảm 33,95%, than đá giảm 25,95%. Kim ngạch xuất khẩu của nhóm công nghiệp chế biến giảm 4,7% so với cùng kỳ. Hầu hết kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đều giảm giảm: sắt thép các loại giảm 82,3%, chất dẻo nguyên liệu giảm 37,8%, gốm sứ giảm 23,9%, dây điện và cáp điện giảm 17,8%, mây, tre, cói và thảm giảm 20,9%, giấy và sản phẩm từ giấy giảm 13,2%, sản phẩm từ sắt thép giảm 18,7%, giày dép giảm 15,9%, sản phẩm từ cao su giảm 9,9%, gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 11,1%, sản phẩm chất dẻo giảm 13,4%, túi sách, vali, mũ, ô dù giảm 11,3%,....

Đặc biệt, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản- có thế mạnh trong xuất khẩu- mặc dù lượng tăng nhưng kim ngạch lại giảm 8,6% so với cùng kỳ do giá xuất khẩu của một số mặt hàng trong nhóm giảm. Cụ thể: nhân điều giảm 14,33%, cà phê giảm 28,37%, chè giảm 6,41%, hạt tiêu giảm 26,64%, gạo giảm 29,41%, sắn và các sản phẩm của sắn giảm 37,2%, cao su giảm 37,73%; các mặt hàng có lượng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như: nhân điều tăng 6,48%, cà phê tăng 15,37%, chè tăng 27,2%, hạt tiêu tăng 52,16%, gạo tăng 32,34%, sắn và các sản phẩm của sắn tăng 147,43%, cao su tăng 8,59%.

Lí do thứ hai được Bộ Công thương chỉ ra là do trong những tháng gần đây, sản xuất đã hồi phục, tranh thủ lúc giá thế giới còn thấp nên nhiều DN đẩy mạnh nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất tháng cuối năm và quý I/2010. Nhưng không thể phủ nhận, một số mặt hàng tiêu dùng cần hạn chế nhưng lại có mức tăng đột biến trong tháng 11, đó là sữa và sản phẩm từ sữa tăng 20,2%; bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc tăng 17,9%; khí đốt hoá lỏng tăng 35,7%; sản phẩm từ dầu mỏ khác tăng 8,0%; nguyên liệu dược phẩm tăng 43,1%; sợi các loại tăng 15,8%,... Đặc biệt một số mặt hàng xa xỉ phẩm vẫn ùn ùn về Việt Nam như ô tô con, điện thoại di động, sản phẩm thép... có mức tăng đột ngột trong những tháng gần đây.

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, việc quay về khai thác thị trường trong nước khiến năng lực sản xuất không thể cùng một lúc đáp ứng nhu cầu XK và trong nước cũng là nguyên nhân khiến nguồn hàng xuất khẩu giảm sút.

Giảm nhập siêu- Áp dụng cả biện pháp hành chính

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Bùi Xuân Khu cho rằng, để hoàn thành nhiệm vụ, tháo gỡ cho DN, trong những ngày tới toàn ngành công thương cần tập trung vào hai nhiệm vụ chính:

Thứ nhất: tập trung ưu tiên đẩy mạnh XK và kiềm chế nhập siêu.

Thứ trưởng Bùi Xuân Khu yêu cầu, toàn ngành đẩy mạnh sản xuất, khai thác hết năng lực, công suất máy móc; giảm chi phí, giảm giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh để nhanh chóng bổ sung thêm một số mặt hàng XK; bên cạnh đó, cần gia tăng thêm sản lượng một số mặt hàng công nghiệp và hàng nông sản, thủy sản.

Ông Khu yêu cầu, các vụ, cục chức năng nhanh chóng giải quyết vướng mắc của các DN và địa phương như: hỗ trợ như xúc tiến thương mại, mở sàn giao dịch điện tử khu vực, tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính; phối hợp với hải quan và cơ quan vận tải, dịch vụ tập trung xử lý các vướng mắc ở cửa khẩu, các cảng để phục vụ XK tốt nhất.

Song song với đó cần tập trung mọi nguồn lực, lực lượng ngăn chặn nhập siêu. Thứ trưởng cho rằng, ngoài việc phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, cơ quan Thuế, Hải quan, Bộ Công Thương phải áp dụng cả biện pháp hành chính như kiểm soát việc cấp phép của các Phòng cấp phép xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, hạn chế tối đa nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết như ô tô, di động, mỹ phẩm, rượu, thực phẩm và rau quả. Vụ Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc hạn chế cho vay ngoại tệ nhập hàng tiêu dùng, kiểm tra kiểm soát các DN có lượng nhập lớn ô tô, ngăn ngừa việc mua bán đô la trôi nổi để nhập ô tô. Nếu sự phối hợp có vướng mắc phải báo cáo nhanh để Bộ kịp thời báo cáo Thủ tướng và Chính phủ để nhanh chóng có hướng xử lý.

Đối với Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, Thứ trưởng yêu cầu, cần cân đối để sử dụng sản phẩm dầu sản Dung Quất, đẩy mạnh tái xuất, giảm lượng dự trữ nhất định mà vẫn bảo đảm an toàn để giảm lượng nhập hàng trong tháng cuối năm. Đối với các tập đoàn, tổng công ty, cần thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, bán lại ngoại tệ cho ngân hàng để ngân hàng ổn định nguồn cung ngoại tệ.

Thứ hai: Đẩy mạnh sản xuất.

Thứ trưởng yêu cầu, các DN thuộc Bộ Công Thương và các tập đoàn, tổng công ty lớn (kể cả các tổng công ty lương thực) phải đảm bảo sản xuất đủ hàng cho XK và hàng hóa tiêu dùng dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán, nhất là các mặt hàng lương thực- thực phẩm, không để xảy ra “sốt” giá; các sở công thương tham mưu cho lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh hộ trợ nguồn tiền dự trữ hàng hóa tết; bảo đảm ổn định giá các mặt hàng trong tháng còn lại. Ngoài ra, để chuẩn bị nhiệm vụ năm 2010, đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, đề nghị các tập đoàn, tổng công ty đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án, giải ngân các công trình dự án lớn, nhất là các dự án phục vụ sản xuất để nhanh chóng đi vào hoạt động, tạo điều kiện cho sản xuất tăng trưởng, thêm lượng hàng xuất khẩu.

(VH)

Từ 15/1/2010: Giá gas bán lẻ sẽ được kiểm soát

Ảnh minh hoạ.
Ông Nguyễn Sĩ Thắng - Chủ tịch Hiệp hội Gas Việt Nam cho biết, từ trước đến nay các đại lý, cửa hàng vẫn tùy tiện tăng, giảm giá gas, nên khó kiểm soát.

Tuy nhiên, khi Nghị định số 107/2009/NĐ- CP về kinh doanh gas do Chính phủ ban hành có hiệu lực, thương nhân kinh doanh gas đầu mối sẽ phải công khai giá bán và phải chịu trách nhiệm về giá trong hệ thống phân phối của mình.

Theo Hiệp hội Gas, giá gas thời gian tới có thể tăng do dịp mùa đông, cận tết nên nhu cầu gas thế giới và trong nước tăng cao. Do gas là mặt hàng chủ yếu nhập khẩu, việc thay đổi tỷ giá có ảnh hưởng đến giá gas trong nước. Hiệp hội cho biết sẽ tính khung chuẩn để các DN đưa ra mức giá hợp lý trên cơ sở DN có lãi nhưng không bắt chẹt người tiêu dùng. Hiệp hội sẽ phối hợp với cơ quan chức năng theo dõi, kiểm soát chặt chẽ việc tăng giảm giá gas trên thị trường.

Được biết, hiện cả nước có 80 doanh nghiệp kinh doanh gas đầu mối, trong số này chỉ có khoảng 60 đơn vị có thương hiệu, với hàng vài chục nghìn đại lý và cửa hàng nhỏ lẻ trên toàn quốc.

(Theo VCCI)

Sunday, 6 December 2009

Game ngoại lấy tiền Việt

Năm 2008, doanh số của toàn ngành nội dung số tại VN đạt 180 triệu USD, trong đó game(trò chơi điện tử) chiếm đến 75%, đạt 130 triệu USD, cho thấy thị trường này tại VN lớn như thế nào.

Game online đang là một loại hình giải trí thu hút giới trẻ đông nhất tại VN. Ảnh: P.K.

Thế nhưng đến thời điểm gần hết 2009, trong khi các nhà phát hành game online (GO) VN càng muốn thúc đẩy thị trường, thì như một lẽ tất yếu, dòng tiền từ trong nước chảy ra nước ngoài càng nhiều. Thị trường GO tại VN hiện khá sôi động nhờ hầu hết vào game ngoại. Vì thế, game ngoại vô tư... lấy tiền Việt.

Thị trường lớn nhất Đông Nam Á

Theo một báo cáo mới nhất của Hiệp hội DN phần mềm VN (VINASA), thị trường VN hiện có tổng cộng 53 game đang được phát hành, trong số này có 30 GO, 51/53 game đã được thương mại hoá. Cách đây vài năm, một số quan chức thuộc Bộ Thông tin & Truyền thông từng đưa ra con số định hướng, rằng mức vừa phải đối với thị trường VN là chỉ nên cho phép lưu hành khoảng 20 game. Thì đến nay, con số đó đã bị phá vỡ. Hiện các Cty phát hành GO vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những game mới để nhập về.

VN là thị trường game lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Trong hai năm 2008-2009, số lượng game mới nhập vào VN gia tăng nhanh đến chóng mặt. 40 game đã được chính thức ra mắt một cách tập trung tại Hà Nội và TPHCM. Thế nhưng trong số hàng chục game đang được vận hành trên thị trường, chỉ có một game Việt là "Thuận Thiên Kiếm" (TTK), do VinaGame phát triển.

Trong lúc này, nhắc tới game Việt coi như nói đến TTK. Nói một cách sòng phẳng thì ngành game VN dù đã có thị trường nhưng về sản xuất thì gần như chưa có gì. Ngay đối với trường hợp TTK, dù được nhà phát triển quan tâm PR nhưng lượng người chơi cũng như mức độ quan tâm của cộng đồng game thủ đối với game này chưa cao, không thể sánh với những game như "Võ Lâm Truyền Kỳ", "Thiên Long Bát Bộ" hay "Audition", là những cỗ máy làm ra tiền của VinaGame, FPT Online và VTC.

Một mình một chợ

Nhưng cũng vì thế mà ngày càng có nhiều quan ngại học sinh bỏ bê việc học để chơi game. Ảnh: P.K

Cộng đồng game thủ tại VN đông đến mức... đáng nói: 12 triệu người. Số liệu khảo sát của VINASA trên 1.250 game thủ cho thấy, phần lớn trong số này là học sinh, sinh viên và nhân viên văn phòng, chứ không phải những người thất nghiệp hay hưu trí. Chính vì vậy mà lâu nay, dư luận xã hội luôn lo lắng: Sa đà vào chơi game học sinh bỏ bê chuyện học hành, nhân viên văn phòng "ăn cắp" thời gian và tài nguyên của cơ quan, đơn vị...

Song trong bài viết này, khía cạnh chúng tôi muốn nhấn mạnh chính là: Game ngoại đang ngày lại ngày lấy tiền Việt nhiều hơn nhưng các nhà phát hành, hiệp hội DN phần mềm, game thủ... vẫn không thể làm khác. Thậm chí, những động thái hiện tại của các nhóm đối tượng trên vô hình trung lại thúc đẩy việc trả tiền cho các nhà phát triển game nước ngoài nhiều hơn khi luôn đòi hỏi thị trường, chính sách rộng mở cho việc kinh doanh game và chơi game, nhưng chỉ có game ngoại "một mình một chợ".

Năm 2008, doanh số của toàn ngành nội dung số tại VN đạt 180 triệu USD, trong đó game chiếm tỉ trọng đến 75%, đạt 130 triệu USD. Hai thị trường lớn nhất của ngành game tại VN là Hà Nội và TPHCM. Và cũng tại hai nơi này, các hoạt động quảng bá, tuyên truyền về game, ra mắt game mới diễn ra sôi động hơn cả.

VINASA nhận định: "Doanh thu từ ngành game bị chia sẻ với tỉ lệ phần trăm cao cho nhà phát triển game nước ngoài". Phương thức mua-bán tuỳ từng nhà phát hành đối với từng game. Có thể là mua quyền khai thác trong một khoảng thời gian và trả phí một gói, cũng có thể là ăn chia theo tỉ lệ.

VinaGame là Cty game có doanh số lớn nhất hiện nay tại VN (năm 2008 hơn 700 tỉ đồng). Tất nhiên, hầu hết khoản doanh thu hơn 2.300 tỉ đồng trong năm 2008 của các Cty game đều lấy từ túi các game thủ. Những người chi ít thì từ 70-160 ngàn đồng/tháng; những người chơi nhiều thì chi từ 160-300 ngàn đồng/tháng. Giá trị thị trường game VN năm 2009 được cho rằng cũng trên dưới 2.000 tỉ đồng.

Song, đến thời điểm này, dù cho rằng tỉ lệ phần trăm chia cho nhà phát triển game nước ngoài cao nhưng VINASA cũng như các DN chưa tiết lộ tổng số tiền từ VN chảy ra nước ngoài thông qua con đường trả phí khai thác, phát hành là bao nhiêu. Nhưng có thể thấy, dòng tiền chảy ra chủ yếu tới các Cty của Hàn Quốc và Trung Quốc.

Đây là hai quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển hàng đầu Châu Á, vì thế đã thu được những khoản tiền khá lớn từ các nước khác "đóng góp". Giá trị thị trường game Hàn Quốc năm 2008 là 4,6 tỉ USD. Còn Trung Quốc, giá trị thị trường game năm 2009 này là 3 tỉ USD.

* CTY GAME VN ĐẦU TIÊN CÓ DOANH THU TẠI HÀN QUỐC. Tin từ VTC Game, từ ngày 27.11, game Linh Vương do đơn vị này phát hành chính thức được thương mại hoá tại Hàn Quốc. Trong khi rất nhiều game ngoại tràn vào VN và xơi tiền Việt, thì trường hợp Linh Vương được thương mại hoá thu tiền game thủ Hàn Quốc là một điểm khác biệt đáng lưu ý. Tuy nhiên, game Linh Vương lại do một Cty Trung Quốc (Cty Thiên Cực Phong) phát triển, du nhập vào VN thông qua VTC Game. Tại Hàn Quốc, trước thời điểm thương mại hoá, game Linh Vương có khoảng 50.000 tài khoản đăng ký.

* 14% DÂN SỐ VN CHƠI GAME. Theo VINASA, VN hiện có khoảng 12 triệu game thủ. Trong khi đó, thống kê dân số VN đến thời điểm 1.4.2009 gần 86 triệu người. Tính ra, tỉ lệ người chơi game ở VN chiếm tới 14% dân số cả nước. Tỉ lệ này đặc biệt cao ở hai khu vực TPHCM, Hà Nội và một số thành phố. Vấn đề đáng nói là, 12 triệu người bỏ tiền chơi game nhưng ngành game tại VN mới chỉ giải quyết việc làm cho vài ngàn lao động, chủ yếu làm việc trong các Cty phát hành game (bán sản phẩm và dịch vụ). Nhiều nhất là tại VinaGame, FPT Online, VTC.

* HƠN 50% NGƯỜI DÙNG INTERNET TẠI VN ĐỂ CHƠI GAME. Theo thống kê của Trung tâm Internet VN, tính đến hết tháng 10 VN có hơn 22 triệu người sử dụng Internet, thế nhưng VN lại có đến 12 triệu game thủ. Tỉ lệ này phù hợp với khảo sát trước đây của hãng nghiên cứu thị trường AC Nielsen (Mỹ) chi nhánh tại VN: VN có 53% số người sử dụng Internet để chơi game, chat; 30% đọc báo, tìm thông tin; số còn lại dùng cho công việc và mục đích khác...P.K ghi

Nguồn: Thẩm Hồng Thụy - Lao Động

Sữa lại rục rịch tăng giá

Xem hình

Giá nguyên liệu, đường tăng mạnh trong những tháng cuối năm, cùng biến động của tỷ giá USD/VND vừa qua, khiến nhiều hãng sữa quyết định điều chỉnh giá bán lên 6-15%.

Đại diện Công ty cổ phần Vinamilk ước tính, với mức tăng 100% của giá đường (hiện 17.000-18.000 đồng một kg), nếu đối chiếu giá hồi đầu năm (hơn 7.000 đồng mỗi kg), sản phẩm sữa bán ra phải tăng khoảng 40% mới bù đắp vào sự lên giá đột biến của đường.

Sữa Friso bán ra ở nhiều cửa hàng vẫn giữ cũ, chưa có thông báo sẽ tăng giá bán. Ảnh: B.H.

Vì vậy, Vinamilk điều chỉnh giá sữa bột và sữa đặc lên 6%, sau hai năm không thay đổi giá bán. Riêng sữa nước vẫn giữ giá cũ. Trước áp lực lớn về nguồn cung đường, doanh nghiệp cũng đề xuất lên cơ quan chức năng xin thêm quota để nhập khẩu mặt hàng này, nhằm giảm bớt căng thẳng về giá nguồn nguyên liệu đầu vào.

Giá đường biến động mạnh cũng khiến nhiều đơn vị sản xuất bánh kẹo, nước ngọt nâng giá bán khoảng 5-7%, trong mùa sản xuất hàng hóa cuối năm.

Trong khi đó, Công ty sữa Nutifood khẳng định chưa thay đổi giá bán trong năm nay, vẫn giữ nguyên mức bán cũ trong tháng 12 này, song việc giữ giá này kéo dài bao lâu sẽ còn tùy sự biến động thị trường sữa. Giám đốc giao tế nhân sự Nutifood - Lê Hữu Đức cho biết doanh nghiệp đã cắt giảm bớt chi phí quảng cáo, marketing để bù vào những biến động của tỷ giá USD, của sự gia tăng giá nguyên vật liệu. Tuy nhiên, ông khẳng định đây chỉ là giải pháp tình thế, nên không thể biết việc giữ giá bằng hình thức này sẽ duy trì đến khi nào.

Cũng cho biết không dịch chuyển giá bán trong tháng cuối cùng năm 2009, nhưng ông Lê Viết Hà, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần thực phẩm Hanco (Hancofood) dự kiến nâng giá lên 10-15%, áp dụng vào đầu năm 2010. Theo ông Hà, nguyên liệu sữa hiện tăng gấp đôi so với hồi đầu năm, tạo áp lực lớn về chi phí đầu vào, sản phẩm bán ra buộc phải điều chỉnh giá bán.

Công ty phân phối Tiên Tiến, nhà phân phối chính thức sữa Mead Johnson ở Việt Nam mới đây cũng phát đi thông báo không tăng giá bán trong năm 2009 đối với các sản phẩm sữa Enfa A+, gồm: EnfaMama A+, Enfalc A+, Enfapro A+, Enfagrow A+, Enfakid A+. Như vậy, khách hàng mua sản phẩm trong tháng 12 của hãng này vẫn được áp dụng theo giá niêm yết cũ, không thay đổi.

Dược phẩm 3A, nhà phân phối sữa Abbott cũng cho biết, khoảng 40 sản phẩm của hãng này vẫn giữ giá cũ trong năm 2009, sau khi tăng 4% vào đầu năm 2008.

Cuối tháng 8, Đoàn thanh tra liên ngành đã tiến hành kiểm tra yếu tố cấu thành giá tại nhiều doanh nghiệp sữa trên địa bàn TP HCM và Hà Nội. Trên cơ sở kết quả này, cơ quan chức năng yêu cầu doanh nghiệp nhanh chóng cắt giảm các khoản phí không cần thiết, đồng thời xem xét các yếu tố cấu thành giá để bằng mọi cách ổn định giá bán các sản phẩm sữa dịp cuối năm.



Theo Vnexpress

Cam kết ODA lớn nhất từ trước tới nay

Việt Nam tiếp tục nhận được sự hỗ trợ lớn hơn từ cộng đồng quốc tế - Ảnh: Anh Quân.

Cộng đồng quốc tế cam kết tài trợ trên 8,06 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam trong năm 2010, lớn nhất từ trước tới nay
Chiều nay (4/12), Hội nghị thường niên Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) bế mạc. Số vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) được công bố tại phiên bế mạc đã đạt mức kỷ lục mới.

Cam kết ODA đạt hơn 8 tỷ USD

Tổng số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam trong năm 2010 đến từ 9 quốc gia tài trợ trực tiếp, 15 quốc gia thuộc Cộng đồng chung Châu Âu (EU), và 5 tổ chức phát triển đạt con số kỷ lục, trên 8,06 tỷ USD.

Trong 5 tổ chức phát triển, Ngân hàng Thế giới (WB) là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam, với gần 2,5 tỷ USD; tiếp đến là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), với gần 1,5 tỷ USD.

Về phía các quốc gia tài trợ trực tiếp cho Việt Nam, Nhật Bản vẫn là quốc gia tài trợ quan trọng nhất, với 1,64 tỷ USD. Tổng cộng 15 nhà tài trợ thuộc EU cam kết tài trợ trên 1,08 tỷ USD trong năm tới.

Như vậy, năm 2010 cam kết ODA dành cho Việt Nam sẽ đạt con số lớn nhất kể từ trước tới nay. Trước đó, kỷ lục cam kết ODA công bố tại Hội nghị CG thuộc về năm 2007, với 5,426 tỷ USD. Năm 2009, cam kết ODA đưa ra tại Hội nghị CG đạt 5,015 tỷ USD. Nếu tính thêm “cam kết muộn” của Nhật Bản, con số chính thức của năm 2009 là 5,914 tỷ USD.

Bên lề Hội nghị CG, trả lời báo chí chiều 3/12, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho biết, ODA là nguồn vốn quan trọng đối với Việt Nam; các nhà đầu tư sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi biết chính phủ của họ tăng thêm viện trợ cho Việt Nam.

"Như vậy, vốn ODA có tác dụng tốt, kích thích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng đối với tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối trong thời gian gần đây", Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói .

Giải ngân đã tốt hơn

Bình luận về con số cam kết ODA kỷ lục của năm 2010, Bộ trưởng Phúc nói: “Chúng tôi rất phần khởi với con số cam kết ODA lớn của năm 2010, tuy nhiên, vấn đề giải ngân cũng cần được quan tâm. Chính vì giải ngân tốt trong hai năm vừa qua, nên Việt Nam nhận được sự ủng hộ nhiều hơn, thể hiện trong cam kết lần này”.

Trước đó, theo con số được công bố trong báo cáo của Chính phủ, được trình bày trước các nhà tài trợ hôm khai mạc Hội nghị CG, vốn ODA ký kết năm 2009 có thể đạt 5,85 tỷ USD; giải ngân các nguồn vốn này dự kiến đạt khoảng 3 tỷ USD, trong đó có 300 triệu USD viện trợ không hoàn lại. Đây cũng là một kỷ lục khác về ODA từ trước đến nay.

Trả lời câu hỏi liên quan đến đánh giá của các nhà tài trợ đối với tiến độ giải ngân các dự án của phóng viên VnEconomy, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa cũng cho biết, tốc độ giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ODA của WB đã tốt hơn.

Thêm vào ý kiến của cấp lãnh đạo của mình, ông Martin Rama, Chuyên gia kinh tế trưởng WB thông báo, những đánh giá độc lập tại 30 dự án của WB đều nhận được sự hài lòng về tốc độ giải ngân từ các bên liên quan. Các vấn đề vẫn gặp phải trước đây như giải phóng mặt bằng chậm, khó khăn trong khâu bồi thường, chậm vốn từ phía nhà tài trợ… đều được cải thiện tốt hơn trong năm 2009.

Lãi suất sẽ thay đổi

Liên quan đến lãi suất các khoản vay ODA năm 2010, được cho là sẽ cao hơn trước do Việt Nam đã thoát ngưỡng nước có thu nhập thấp, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết, các khoản vay ODA hiện nay vẫn nằm trong ngưỡng lãi suất ưu đãi ODA, không phải các khoản vay thương mại.

Riêng viện trợ không hoàn lại, Bộ trưởng Phúc cho biết, các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam khoảng 1,4 tỷ USD, trong đó nhiều khoản vay loại này cũng đã được xác định như: 98,6 triệu USD viện trợ của Australia; 83 triệu USD từ Anh; 138,2 triệu USD của Hoa Kỳ; Nhật Bản viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; Hàn Quốc cũng có một phần viện trợ không hoàn lại…

Trong khoảng 6,6 tỷ USD còn lại, chủ yếu vẫn là các khoản vay với lãi suất ưu đãi, tuy nhiên, con số cụ thể, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vẫn chưa được phân định chi tiết.

“Các nhà tài trợ vẫn tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến môi trường, tác động từ biến đổi khí hậu toàn cầu… Bên cạnh đó, các dự án lớn về cơ sở hạ tầng cũng tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, lãi suất có thể thay đổi”, Bộ trưởng Phúc cho biết.
(Theo Vneconomy)

Goldman Sachs: GDP của Việt Nam sẽ tăng 8,2% năm 2010

Trụ sở của Goldman Sachs ở New York (Mỹ) - Ảnh: Reuters.

Goldman Sachs đánh giá tích cực về sự phục hồi tăng trưởng, đồng thời chỉ ra những rủi ro trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Báo cáo vừa công bố của Goldman Sachs đánh giá tích cực về sự phục hồi tăng trưởng, đồng thời chỉ ra những rủi ro trong nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện nay.

Trong báo cáo về kinh tế Việt Nam đề ngày 3/12/2009, ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ nhận định, sự phục hồi tăng trưởng của kinh tế Việt Nam từ quý 2/2009 tới nay là kết quả chủ yếu của nhu cầu nội địa.

“Nhờ chương trình kích cầu và chính sách tiền tệ nới lỏng, nền kinh tế Việt Nam đã chống chọi tương đối tốt với những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong quý 3/2009, GDP của Việt Nam tăng trưởng 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái, gần bằng mức tăng trưởng bình quân 5,3% của khu vực châu Á trừ Nhật Bản”, báo cáo viết.

Tác giả thực hiện báo cáo, nhà phân tích Hellen Qiao của Goldman cho rằng, tiêu dùng cá nhân của Việt Nam đã phục hồi khỏi mức đáy trong thời gian khủng hoảng, một mặt nhờ tình hình tài chính tốt của các hộ gia đình, mặt khác nhờ tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp.

Bên cạnh đó, báo cáo của Goldman chỉ rõ, tăng trưởng trong lĩnh vực đầu tư cũng đã khởi sắc, dựa trên gói kích cầu của Chính phủ, mức lãi suất hạ và chương trình hỗ trợ lãi suất cho vay. “Với sự sa sút của hoạt động đầu tư ở thời điểm cuối năm ngoái, Chính phủ Việt Nam đã vào cuộc, khởi xướng và cung cấp vốn cho nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng… Quan trọng hơn, đầu tư của khối tư nhân (chủ yếu là trong ngành bất động sản) cũng tăng tốc ”, báo cáo nhận định.

Goldman cho rằng, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với thời kỳ đỉnh cao trước đây.

Báo cáo chỉ rõ, thặng dư thương mại của Việt Nam ở thời gian đầu năm là kết quả chính từ sự sụt giảm mạnh của nhập khẩu do nhu cầu nội địa suy giảm. Sau đó, nhu cầu nội địa phục hồi nhanh, kéo theo sự tăng tốc của nhập khẩu giữa lúc xuất khẩu phục hồi chậm, khiến cán cân thương mại của Việt Nam lại rơi vào tình trạng thâm hụt.

Bản báo cáo khẳng định, chính sách kích cầu của Chính phủ Việt Nam đã thành công, nhưng chuẩn bị đi vào hồi kết.

Ở chính sách tài khóa, báo cáo của ngân hàng này cho rằng, mặc dù một phần của chính sách tài khóa mở rộng hiện nay sẽ còn tiếp tục sang năm 2010, tỷ lệ thâm hụt ngân sách của Việt Nam so với GDP năm tới sẽ không tăng. Goldman dự báo, thâm hụt ngân sách của Việt Nam năm nay ít nhất sẽ ở mức 9%.

Về chính sách tiền tệ, báo cáo nhận định, sau khi áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích tăng trưởng kinh tế trong năm 2009, nhiều khả năng sang năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ thực hiện thắt chặt chính sách này.

“Chúng tôi cho rằng chính sách tiền tệ nới lỏng sắp kết thúc, với việc Ngân hàng Nhà nước áp dụng các biện pháp thắt chặt như tăng lãi suất hay hút bớt thanh khoản để chống lạm phát trong năm 2010”, chuyên gia của Goldman dự báo.

Về chính sách tỷ giá, Goldman dự báo, Việt Nam sẽ duy trì sự giảm giá dần dần của VND so với USD, trừ trường hợp tình hình cán cân thanh toán xấu đi. “Sau lần tăng tỷ giá USD hồi cuối tháng 11, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ nỗ lực giảm tốc sự mất giá của đồng nội tệ để duy trì niềm tin vào đồng tiền này”, báo cáo có đoạn viết.

Song song với việc hoan nghênh những nỗ lực phục hồi kinh tế của Chính phủ Việt Nam, báo cáo của Goldman cũng chỉ ra một số thách thức mang tính chu kỳ mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt ở thời điểm hiện nay.

Thách thức thứ nhất là những áp lực lạm phát có chiều hướng tăng. Theo báo cáo, tốc độ tăng CPI của Việt Nam hiện nay so với cùng kỳ năm ngoái vẫn thấp, nhưng nếu so tháng trước với tháng sau thì có thể thấy các áp lực lạm phát đã tăng trở lại. Các mặt hàng lương thực và thực phẩm đã đóng góp nhiều nhất vào sự gia tăng của áp lực lạm phát.

Thách thức thứ hai mà báo cáo chỉ ra là tình hình thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam. Theo Goldman, song song với thâm hụt thương mại, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam cũng đã giảm xuống. Tuy nhiên, báo cáo cũng bày tỏ sự tin tưởng rằng, Chính phủ Việt Nam sẽ có đủ khả năng để kiểm soát những rủi ro liên quan tới cán cân thanh toán.

Goldman cho rằng, rủi ro đối với nền kinh tế Việt Nam đang đến từ hai phía. Một mặt, sự thành công của chính sách kích cầu, cộng với nhu cầu trong và ngoài nước phục hồi tốt, kéo theo rủi ro lạm phát gia tăng. Mặt khác, nếu các biện pháp thắt chặt được thực hiện “quá tay”, Việt Nam có thể phải đương đầu với nguy cơ suy giảm tăng trưởng cũng như những khó khăn trong cán cân thanh toán.

“Năm tới có thể sẽ là một năm quan trọng nữa khi mà các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đối mặt với thách thức trong việc giảm áp lực lạm phát mà không tác động bất lợi tới tăng trưởng. Chúng tôi duy trì quan điểm lạc quan thận trọng về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 2 năm tới trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam nỗ lực đảm bảo một môi trường vĩ mô ổn định để tạo ra sự tăng trưởng bền vững”, báo cáo viết.

Theo dự báo mà Goldman đưa ra trong báo cáo lần này, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 5,1% trong năm nay và 8,2% trong năm 2010.
(Theo Vneconomy)

Thursday, 3 December 2009

Chính phủ yêu cầu hạn chế nhập khẩu, giảm mạnh nhập siêu

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, góp phần giảm mạnh nhập siêu.
Ngày 3/12, Chính phủ đã ban hành văn bản yêu cầu các cơ quan chức năng quyết liệt "vào cuộc" nhằm hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu, giảm mạnh nhập siêu; ngăn chặn ngay các hoạt động kinh doanh vàng làm mất ổn định và gây thiệt hại cho nền kinh tế;...

Có thể thấy đây là những vấn đề "nóng" đã được đặt trên bàn nghị sự trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 vừa diễn ra trong ngày 1/12. Bởi vậy, bằng văn bản pháp lý ban hành sáng nay (3/12), Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho từng Bộ, ngành chức năng phải quyết liệt thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước, giám sát thị trường, đặc biệt là liên quan đến vấn đề thuế, nhập khẩu, kinh doanh vàng, chứng khoán,... cũng như đôn đốc việc sớm dự thảo các quyết sách của Chính phủ liên quan đến hỗ trợ lãi suất năm 2010 đang được cả nước đón đợi.

Ban hành ngay các quy định cần thiết

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời căn cứ cung cầu chất lượng hàng hóa, yêu cầu bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm để xây dựng và ban hành ngay các quy định cần thiết (hàng rào kỹ thuật), kết hợp với các biện pháp về thuế để tăng cường quản lý, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, góp phần giảm mạnh nhập siêu.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11/2009 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung 11 tháng qua, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 51,3 tỷ USD, giảm 11,6% so với cùng kỳ năm trước.

Chưa tính tháng cuối năm (tháng 12), đến nay kim ngạch hàng hoá nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước nhìn chung đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhiều mặt hàng mặc dù lượng nhập khẩu tăng nhưng do giá giảm nên kim ngạch giảm. Tuy nhiên, nhập siêu hàng hóa tháng 11/2009 ước tính 1,97 tỷ USD. Nhập siêu 11 tháng năm 2009 ước tính 10,4 tỷ USD, bằng 20,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và bằng 61,1% mức nhập siêu cùng kỳ năm 2008. Như vậy, nhìn lại những con số nhập siêu cho thấy xu hướng nhập siêu có chiều hướng tăng trong những tháng cuối năm 2009.

Ngăn chặn ngay hành động kinh doanh vàng làm mất ổn định, gây thiệt hại kinh tế

Thủ tướng yêu cầu phải ngăn chặn ngay các hoạt động kinh doanh vàng làm mất ổn định và gây thiệt hại cho nền kinh tế

Cụ thể hóa chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp Chính phủ vừa qua là “không thể để sức ép tỷ giá lên thị trường ngoại hối, không để giá vàng hoành hành như những ngày gần đây”, trong văn bản ra ngày 3/12, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiên quyết và nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về quản lý nhà nước đối với kinh doanh vàng, nhất là quản lý hoạt động của các Trung tâm Giao dịch Vàng, phải ngăn chặn ngay các hành động kinh doanh vàng làm mất ổn định và gây thiệt hại cho nền kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát lại quy định và tổ chức hoạt động thu đổi ngoại tệ, bảo đảm mọi hoạt động về thu đổi ngoại tệ phải được giám sát của các cơ quan chức năng và tuân thủ đúng quy định. Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm các hoạt động trái pháp luật trong lĩnh vực này.

Đối với hoạt động chứng khoán, Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ để các hoạt động kinh doanh chứng khoán thực hiện đúng quy định; kiểm tra phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi đầu cơ, huy động vốn không đúng quy định để kinh doanh chứng khoán.

Trước 10/12, hoàn thiện dự thảo quyết sách về hỗ trợ lãi suất năm 2010

Lưu ý dự thảo các quyết sách trên phải có sự tiếp thu các ý kiến tham gia tại phiên họp Chính phủ tháng 11/2009, Thủ tướng giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Công Thương hoàn thiện các dự thảo Quyết định của Thủ tướng về thực hiện hỗ trợ lãi suất năm 2010 đối với các khoản vay ngân hàng của các tổ chức, cá nhân, báo cáo Thường trực Chính phủ xem xét, quyết định trước ngày 10/12/2009.

Trong phiên họp Chính phủ diễn ra ngày 1/12 vừa qua, Thủ tướng đã quyết định dừng thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay vốn lưu động ngắn hạn theo Quyết định số 131/QĐ-TTg theo thời hạn như đã quy định (31/12/2009), tiếp tục triển khai trong năm 2010 việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn để thực hiện đầu tư mới nhằm phát triển sản xuất kinh doanh (Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009) và khoản vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp (Quyết định 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao thường trực Chính phủ và các Bộ liên quan tổng hợp, xem xét việc điều chỉnh, bổ sung về mức hỗ trợ, đối tượng được hưởng hỗ trợ lãi suất cho phù hợp với thực tế và công bố trong thời gian tới.

(Theo VPG News)