Showing posts with label thegioi. Show all posts
Showing posts with label thegioi. Show all posts

Monday, 21 December 2009

Hãng phát thanh hàng đầu của Mỹ xin bảo hộ phá sản

picture

Citadel có 165 kênh FM và 58 kênh AM, sở hữu tài sản 1,4 tỷ USD, trong khi gánh khoản nợ lên tới 2,5 tỷ USD.

Hãng phát thanh lớn thứ ba của Mỹ là Citadel Broadcasting vừa nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên toàn án nước này

Hãng phát thanh lớn thứ ba của Mỹ là Citadel Broadcasting vừa nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên toàn án nước này. Doanh thu quảng cáo sụt giảm là lý do khiến lĩnh vực phát thanh tại Mỹ đang phải đương đầu với những thách thức lớn.

Sau khi đàm phán với 60% số chủ nợ có thứ hạng ưu tiên cao, Citadel đã đệ đơn phá sản theo Chương 11 của Luật phá sản Mỹ. Hãng này có 165 kênh FM và 58 kênh AM, sở hữu tài sản 1,4 tỷ USD, trong khi gánh khoản nợ lên tới 2,5 tỷ USD.

Theo thỏa thuận với các chủ nợ, Citadel sẽ được xóa nợ số tiền vay 1,4 tỷ USD. Số nợ còn lại sẽ được trả cho các chủ nợ dưới dạng cổ phiếu mới trong công ty sau khi tái cơ cấu.

Dự kiến, trong và sau khi hoàn tất quá trình phá sản, Citadel vẫn sẽ duy trì hoạt động bình thường. Giám đốc điều hành của công ty, ông Farid Suleman, tuyên bố, họ sẽ nỗ lực để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu diễn ra nhanh nhất có thể.

Cùng với các đối thủ khác trong ngành phát thanh tại Mỹ, Citadel đang phải đối mặt với sự sa sút nhanh chóng của doanh thu quảng cáo. Trong quý 3 vừa qua, doanh thu của hãng này sụt mất 14%, còn có 183 triệu USD. Mức lỗ của Citadel trong quý là 21 triệu USD, tương đương 0,08 USD/cổ phiếu, so với mức lãi 0,1 USD/cổ phiếu cùng kỳ năm ngoái.

Citadel cũng là chủ sở hữu của đài phát thanh ABC sau khi vay nợ để mua đài này từ hãng Walt Disney vào năm 2006.

(Theo Reuters)-Vneconomy

Ngẫm về suy thoái kinh tế thế giới

picture

Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ

Suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.

Đó là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.

VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.

Năm 2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay. Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn chặn một cách ngoạn mục.

Cách đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.

Tuy nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.

Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.

Mặc dù vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy thoái này đã không quá khủng khiếp.

Nhưng điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn.

Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.

Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.

Giá nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công, chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.

Nếu bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế giàu có.

Sự khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.

Tỷ lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.

Do vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn. Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia tăng.

Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước ngoài.

Liệu kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.

Một số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài hạn cũng sẽ giảm bớt.

Tuy nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.

Đó là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích thích tăng trưởng.

Tệ hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu.
Tại Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.

Có thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương...

Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.

(Theo Economist)-Vneconomy

Sunday, 20 December 2009

10 điểm đáng chú ý của kinh tế thế giới năm 2009

Không chỉ có Mỹ, các nền kinh tế Eurozone, Nhật ,Anh... vẫn đang duy trì lãi suất cơ bản ở những mức thấp kỷ lục hoặc gần kỷ lục để kích thích kinh tế - Getty Images.

Năm nay là năm mà các quốc gia nỗ lực dọn dẹp đống đổ nát mà cuộc khủng hoảng tài chính để lại
Những kế hoạch kích cầu lớn chưa từng có, các nền kinh tế hàng đầu thế giới bắt đầu tăng trưởng trở lại, những vụ phá sản lớn, nỗi lo khủng hoảng nợ... là vài trong số những câu chuyện cần điểm qua về kinh tế thế giới trong năm 2009 này.

1. Kích thích kinh tế là trọng tâm

Kích thích kinh tế có lẽ là câu chuyện lớn nhất của kinh tế thế giới năm nay. Nếu xem năm 2008 là năm mà kinh tế toàn cầu bị trận bão khủng hoảng tài chính càn quét, thì năm 2009 chính là năm mà các quốc gia nỗ lực dọn dẹp đống đổ nát mà cuộc khủng hoảng đã để lại.

Nước Mỹ là nơi mà cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế bắt đầu, nên cũng là quốc gia đi tiên phong trong việc khắc phục hậu quả. Sau khi chính thức nhậm chức vào ngày 20/1, Tổng thống Mỹ Barack Obama ngay lập tức thúc đẩy một gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD nhằm đưa nền kinh tế Mỹ thoát khỏi tình trạng suy thoái tồi tệ.

Bên kia bờ Đại Tây Dương, Chính phủ Anh cũng thực hiện chính sách “nới lỏng định lượng”, bơm 200 tỷ Bảng (tương đương 330 tỷ USD) vào nền kinh tế. Chính phủ các nước châu Âu khác như Đức, Pháp, Italy, Ba Lan... cũng chi nhiều tỷ USD để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân. Gần đây nhất, vào ngày 7/12, Chính phủ Nhật Bản đã công bố một gói kích cầu mới trị giá 7.200 tỷ Yên, tương đương 81 tỷ USD.

Ngành công nghiệp ôtô là một trong những đối tượng hưởng lợi nhiều từ chính sách kích cầu của chính phủ các nước trong năm. Ban đầu được áp dụng ở Đức, chương trình “thưởng dập xe cũ”, trong đó tặng tiền cho những người mang xe cũ đi dập và mua xe mới có khả năng tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn, đã được nhân rộng ra nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật Bản... và đem đến tác động tích cực cho doanh số của các hãng xe.

2. Thoát suy thoái nhưng tăng trưởng yếu ớt

Với nỗ lực của các chính phủ, các nền kinh tế hàng đầu thế giới đã dần thoát khỏi suy thoái, tuy tốc độ tăng trưởng còn rất yếu ớt. Quý 3 vừa qua, kinh tế Mỹ đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 2,8% sau 4 quý liền liên tục suy giảm. Kinh tế Nhật, về phương diện kỹ thuật, cũng đã thoát suy thoái từ quý 2 năm nay. Suy thoái cũng đã rời khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu Euro (Eurozone) từ quý 2.

Đáng chú ý, nhờ hoạt động tín dụng mở rộng với tốc độ kỷ lục và gói kích cầu trị giá gần 600 tỷ USD mà Chính phủ Trung Quốc đưa ra vào cuối năm 2008, kinh tế nước này đã thành công với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng trên 8%. GDP của Trung Quốc trong quý 3 đã tăng trưởng 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều ý kiến cho rằng, Trung Quốc đã biến cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu này thành một cơ hội, và nhận định, không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Tạp chí uy tín Time của Mỹ đã đánh giá rất cao thành tích tăng trưởng ấn tượng của kinh tế Trung Quốc năm nay khi đưa người lao động của nước này vào top 5 nhân vật hàng đầu của năm 2009. Người dẫn đầu những nỗ lực cứu kinh tế Mỹ khỏi suy thoái là Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED) Ben Bernanke cũng đã được Time bình chọn là Nhân vật của năm.

Trong khi đó, cùng với sự trì trệ của tăng trưởng, kinh tế Nhật phải đối mặt với sự trở lại của giảm phát. Giá cả ở nước này đang diễn biến theo chiều hướng đi xuống, khiến người ta lo ngại về một vòng xoáy giảm phát, đe dọa nền kinh tế đất nước mặt trời mọc.

Đó là lý do vì sao mà giữa lúc các nền kinh tế trên thế giới bắt đầu cân nhắc tới chuyện hậu kích cầu, rút lui khỏi các biện pháp kích thích sao cho vừa đảm bảo được sự phục hồi, vừa tránh được nguy cơ lạm phát cao, thì Nhật Bản lại tung ra một gói kích thích kinh tế mới vào ngày 7/12 vừa qua.

Tới thời điểm cuối năm 2009 này, chính phủ các nước tiếp tục giữ thái độ lạc quan thận trọng về triển vọng phục hồi kinh tế. Đó là lý do vì sao những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Eurozone, Nhật Bản và Anh vẫn đang duy trì lãi suất cơ bản ở những mức thấp kỷ lục hoặc gần kỷ lục. Quốc gia hiện đi đầu trong việc tăng lãi suất trở lại là Australia, với 3 lần tăng lãi suất trong 3 tháng qua.

3. Thất nghiệp leo thang

Năm nay là năm mà tỷ lệ thất nghiệp leo thang mạnh tại những nền kinh tế hàng đầu. Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp tháng 10 vừa qua đã lên tới 10,2%, cao nhất trong 26 năm, trước khi giảm xuống 10% vào tháng 11. Tại Nhật Bản, tỷ lệ thất nghiệp đã đạt mức kỷ lục 5,7% trong tháng 8. Tại Eurozone, đội ngũ không công ăn việc làm cũng đang chiếm gần 10% lực lượng lao động.

4. Nợ công gia tăng và rủi ro khủng hoảng nợ

Dù không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của các gói kích thích kinh tế trong việc đẩy lùi bước tiến của suy thoái, nhưng một trong những “tác dụng phụ” có thể xảy ra của những kế hoạch có quy mô khổng lồ này chính là sự gia tăng của thâm hụt ngân sách, nợ công, và rủi ro về một cuộc khủng hoảng nợ.

Theo số liệu của New York Times, tại Đức - quốc gia từ lâu vẫn đề cao chuyện tiết kiệm chi tiêu công - nợ chính phủ đang trên đà tăng và dự báo sẽ đạt mức 77% GDP vào năm tới, từ mức 60% GDP vào năm 2002. Tại Anh, nợ chính phủ trong cùng khoảng thời gian được dự báo tăng gấp đôi, lên mức hơn 80% GDP.

Trong năm tài khóa kết thúc vào ngày 30/9/2009, thâm hụt ngân sách Mỹ đã lên tới mức kỷ lục 1.400 tỷ USD, tương đương 9,9% GDP của nước này.

Trên thực tế, một vài dấu hiệu về khủng hoảng nợ đã xuất hiện. Cuối tháng 11 vừa qua, thị trường tài chính toàn cầu đã chấn động khi tiểu vương quốc Dubai thuộc Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) tuyên bố xin khất nợ cho tập đoàn quốc doanh Dubai World. Không lâu sau đó, Hy Lạp liên tục bị đánh tụt hạng mức tín nhiệm nợ chính phủ, khiến giới đầu tư thế giới thêm lo lắng.

5. Thị trường chứng khoán, hàng hóa khởi sắc

Cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán và hàng hóa toàn cầu năm nay cũng khởi sắc. Theo số liệu do tạp chí Business Week cung cấp, trong 11 tháng đầu năm nay, các loại trái phiếu có định mức tín nhiệm thấp trên thế giới đem đến cho giới đầu tư tỷ lệ lợi nhuận 58%, tiếp đó là thị trường hàng hóa với mức lợi nhuận 36%, vàng (34%), chứng khoán (29%), trái phiếu doanh nghiệp hạng đầu tư (23%), và trái phiếu chính phủ (8%).

6. M&A dậy sóng

Thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) năm qua đã dậy sóng sau một thời gian im lìm vì khủng hoảng và suy thoái. Những thương vụ lớn nhất phải kể tới trong năm nay bao gồm vụ tỷ phú Warren Buffett của Mỹ mua hãng vận hành đường ray Burlington với giá 26,3 tỷ USD, vụ tập đoàn dầu lửa Exxon Mobil mua hãng năng lượng XTO với giá 41 tỷ USD, hãng Disney chi 4 tỷ USD để mua lại công ty giải trí Marvel Entertainment... Bên cạnh đó, làng công nghệ đã chứng kiến hàng loạt vụ sáp nhập đáng nói trong năm nay, gồm các vụ Oracle mua Sun Microsystems, Dell mua Perot Systems, Xerox mua Affiliated Computer Services, và HP mua 3Com.

7. Ngân hàng Mỹ bắt đầu làm ăn có lãi

Tình hình của ngành ngân hàng Mỹ, nơi bắt nguồn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã được cải thiện trong năm nay. Các định chế tài chính của Mỹ như Bank of America, JPMorgan Chase, Goldman Sachs, Citigroup, Wells Fargo... đã bắt đầu làm ăn có lãi trở lại và đang thực hiện việc trả lại các khoản tiền cứu trợ của Chính phủ nước này.

Việc các nhà băng lớn này trả nợ cho Chính phủ Mỹ cũng nhằm mục đích thoát khỏi sự giám sát ngặt nghèo của các nhà chức trách, đặc biệt đối với vấn đề tiền thưởng.

8. “Nóng” chuyện tiền thưởng

Chuyện tiền thưởng của các định chế tài chính là một câu chuyện tốn nhiều giấy mực của báo chí trong năm qua. Dư luận Mỹ và nhiều nước tại châu Âu đã hết sức bất bình khi giới lãnh đạo nhà băng hưởng những khoản tiền thưởng kếch xù và duy trì lối sống xa hoa giữa lúc tiền thuế của dân được dùng để cứu trợ các ngân hàng thoát khỏi nguy cơ sụp đổ.

Tuy nhiên, làn sóng đổ vỡ vẫn chưa ngừng dâng cao trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Tính tới ngày 12/12 vừa qua, đã có tới 133 ngân hàng Mỹ sụp đổ trong năm 2009, con số cao nhất kể từ khi xảy ra cuộc khoảng tiết kiệm và cho vay ở nước này vào năm 1992.

9. Trật tự mới trong ngành công nghiệp ôtô

Một câu chuyện buồn nữa của năm 2009 là hai tập đoàn hàng đầu của ngành công nghiệp ôtô Mỹ lâm vào cảnh phá sản. Hãng General Motors (GM) đã ghi danh mình vào lịch sử bằng vụ phá sản lớn nhất từ trước tới nay của ngành công nghiệp Mỹ. Chrysler cũng chung số phận với GM, dù đã được Chính phủ Mỹ bơm vốn cứu trợ. Trong số ba “đại gia” công nghiệp ôtô Mỹ, chỉ có hãng Ford là vượt qua khủng hoảng mà không cần tới sự trợ giúp của Washington.

Trong khi đó, tận dụng thời cơ các hãng xe lớn như Toyota và GM gặp khó khăn, những hãng xe có quy mô nhỏ hơn như Volkswagen, Hyundai, Nissan, Fiat... đã nhanh chóng vươn lên chiếm lĩnh thị phần. Cuộc khủng hoảng này được xem là đang dần tạo ra một trật tự mới trong ngành công nghiệp ôtô thế giới.

Phá sản cũng là kết cục của một số công ty đình đám nữa trong năm nay, như hãng thiết bị viễn thông Nortel, một loạt công ty báo chí Mỹ như Reader's Digest và Sun Times, Philadelphia Newspapers và Tribune, sòng bạc Trump Entertainment của tỷ phú Mỹ Donald Trump...

10. Những vụ bê bối tài chính bị đem ra ánh sáng

Nếu như cuối năm 2008, thế giới chấn động khi vụ lừa đảo 50 tỷ USD của nhà tài chính Bernie Madoff bị phanh phui, thì trong năm nay, dư luận lại thêm nhiều lần ngỡ ngàng khi một loạt vụ bê bối tài chính nữa bị đem ra ánh sáng. Trong số này phải kể tới vụ gian lận tài chính ở công ty Satyam Computer Services của Ấn Độ và vụ lừa đảo 8 tỷ USD của tỷ phú Mỹ Allen Stanford.

“Trùm lừa” Madoff cũng đã hầu tòa vào tháng 6 vừa qua và bị tòa tuyên mức án 150 năm tù giam.
(Theo Vneconomy)

Thursday, 17 December 2009

10 thương vụ “đỉnh” nhất năm 2009

Tháng 11 vừa qua, Berkshire tuyên bố mua thêm 77% cổ phần của Burlington với giá 26,3 tỷ USD. Đây là thương vụ lớn nhất mà Buffett từng thực hiện.

Trong số 10 thương vụ kinh doanh xuất sắc nhất năm 2009, có tới hai thương vụ của nhà đầu tư huyền thoại Buffett
Trong số 10 thương vụ kinh doanh mà tạp chí Time của Mỹ bình chọn xuất sắc nhất năm 2009, có tới hai thương vụ của nhà đầu tư huyền thoại Buffett.

Dưới đây là danh sách 10 thương vụ này:

1. Buffett mua cổ phần trong Goldman Sachs

Vào ngày 24/9/2008, giữa lúc cả thế giới tài chính đang trong cơn hoảng loạn, tỷ phú Warren Buffett đã đạt thỏa thuận với Goldman về việc mua lại cổ phần của ngân hàng này (Time giải thích, thương vụ này bắt đầu từ năm 2008, nhưng việc thanh toán được hoàn tất vào năm 2009 nên được tính là một thương vụ của năm 2009). Tập đoàn Berkshire Hathaway của Buffett trả 5 tỷ USD để mua cổ phiếu ưu đãi của Goldman với lợi tức hàng năm 10%, cộng thêm số chứng quyền để mua 43,5 triệu cổ phiếu cổ thông của Goldman với giá 115 USD/cổ phiếu.

Một năm sau đó, nếu bán đi, thì riêng lượng chứng quyền trên đã có thể đem về cho Buffett, người giàu thứ nhì thế giới hiện nay, 3 tỷ USD lợi nhuận. Tuy nhiên, Buffett vẫn giữ số chứng quyền này vì tin rằng giá cổ phiếu của Goldman sẽ còn tăng cao hơn trước khi chứng quyền hết hạn vào năm 2012.

Một thương vụ tương tự giữa Berkshire và tập đoàn General Electric (GE) tuy không thành công rực rỡ như vụ mua lại cổ phần của Goldman, nhưng vẫn đem lại lợi nhuận tương đối cho Buffett. Với chiến lược mua vào khi tất cả đang bán ra, và giành được những điều khoản có lợi hơn nhiều so với thỏa thuận giữa Bộ Tài chính Mỹ với các ngân hàng đầu tư khác trong kế hoạch giải cứu, “nhà tiên tri của Omaha” lại một lần nữa thắng lớn.

2. Quyết định đứng ngoài khôn ngoan của JPMorgan Chase

Trong thời kỳ bùng nổ của hoạt động chứng khoán hóa, trong đó các khoản nợ địa ốc được tập hợp lại và sử dụng làm tài sản thế chấp cho các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (CDO) được phát hành ra thị trường, vào các năm 2005-2006, JPMorgan Chase đã quyết định đứng bên lề cuộc chơi đầy may rủi này giữa lúc các đối thủ như Citigroup, Merill Lynch và UBS miệt mài tham gia.

Theo một cuốn sách kể lại, mặc dù là một trong những “tác giả” của CDO, nhưng bộ phận nghiệp vụ phái sinh của JPMorgan cho rằng, mức độ rủi ro của sản phẩm này là quá cao. Giám đốc điều hành (CEO) Jamie Dimon nhất trí với quan điểm này.

Sự thận trọng như vậy đã khiến JPMorgan chịu thua về lợi nhuận so với các đối thủ khác trong thời kỳ bong bóng, nhưng đã đem tới “mùa vàng” cho ngân hàng này trong năm nay. Trong 3 quý đầu năm 2009, JPMorgan đạt lợi nhuận 8,5 tỷ USD giữa lúc hầu hết các đối thủ khác đang còn chật vật vì khủng hoảng.

Ông Jamie Dimon, Giám đốc điều hành JPMorgan Chase - Ảnh: Reuters.

3. BB&T thành ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ nhờ mua Colonial

Sau nhiều thập kỷ bị che phủ bởi cái bóng của những “đại gia” ở bang Bắc Carolina như Bank of America (BofA) và Wachovia, ngân hàng Branch Banking & Trust (BB&T) đã nổi lên thành nhà băng thành công nhất của tiểu bang này trong năm 2009. Wachovia đã bị đối thủ Wells Fargo thâu tóm vào năm ngoái, còn BofA còn đang phải giải quyết những rắc rối do tự “mua dây buộc mình” khi thâu tóm Merrill Lynch.

Trong khi đó, BB&T vẫn ăn nên làm ra và phát triển lớn mạnh hơn trước rất nhiều nhờ tiếp quản lại toàn bộ số tài khoản tiền gửi và mua lại các chi nhánh của ngân hàng Colonial Bank - ngân hàng lớn nhất đổ vỡ trong năm 2009 tính tới thời điểm này. Hiện BB&T là ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ xét về giá trị tài sản, đồng thời ở trong tình trạng sức khỏe tài chính tốt hơn hầu hết mọi đối thủ.

Hiện BB&T là ngân hàng lớn thứ 8 ở Mỹ xét về giá trị tài sản - Ảnh: Getty Images.

4. Mua Burlington, vụ đầu tư lịch sử của Buffett

Lại là một thương vụ nữa của tỷ phú Warren Buffett. Lần đầu tiên Tập đoàn Berkshire của nhà đầu tư huyền thoại mua cổ phần trong Burlington - công ty vận hành đường sắt lớn nhất nước Mỹ - diễn ra vào năm 2007. Tới tháng 11 vừa qua, Berkshire tuyên bố mua thêm 77% cổ phần của Burlington với giá 26,3 tỷ USD. Đây là thương vụ lớn nhất mà Buffett từng thực hiện.

Ngoài ra, đây được xem là một vụ mua lại kinh điển kiểu Buffett: nghe qua thì không hấp dẫn, nhưng lợi nhuận thu lại thì rất đều. Ngoài ra, vụ mua lại Burlington cũng thu nạp cho Berkshire một gương mặt triển vọng: CEO của Burlington là Matthew K. Rose mới có 50 tuổi và có đủ năng lực để trở thành một ứng cử viên cho ghế CEO của Berkshire một khi Buffett về hưu.

Đáng chú ý nữa, thương vụ này cho thấy, từ chỗ là một quỹ đầu tư rót vốn vào một số ít lĩnh vực kinh doanh, Berkshire đã trở thành một tập đoàn khổng lồ với sự đặt cược lớn vào tương lai của lĩnh vực công nghiệp của nước Mỹ.

Tỷ phú Warren Buffett - Ảnh: Reuters.

5. Khoản vay 23,6 tỷ USD của Ford

Không lâu sau khi được bổ nhiệm vào ghế CEO của hãng xe Ford vào năm 2006, Alan Mulally đã hỏi vay các ngân hàng lớn của Mỹ một khoản lớn. Khi đó, Mulally lý giải, số tiền vay này sẽ là “tấm đệm để bảo vệ Ford trong trường hợp xảy ra suy thoái hoặc có sự cố bất ngờ”.

Và khoản vay này trên thực tế đã tạo ra sự khác biệt giữa Ford và các đối thủ khác trong lần khủng hoảng này. Giữa lúc các đối thủ GM và Chrysler vật vã gõ cửa Washington để xin cứu trợ và rốt cục phải nhường quyền kiểm soát cho Chính phủ Mỹ để đổi lấy sự giải cứu, thì Ford vẫn ung dung tồn tại độc lập. Kết quả, Ford đã vươn lên thành hãng xe mạnh nhất trong ngành công nghiệp ôtô Mỹ và đã bất ngờ báo lãi trong quý 3 vừa qua.

Ford đã vươn lên thành hãng xe mạnh nhất trong ngành công nghiệp ôtô Mỹ - Ảnh: AP.

6. BlackRock mua Barclays Global Investors

Cuộc khủng hoảng tài chính đã mở ra hàng loạt cơ hội “lên đời” cho Larry Fink, CEO của BlackRock, nhà đầu tư trái phiếu luôn biết mình đang làm gì. Trong thời gian khủng hoảng, BlackRock đã được Chính phủ Mỹ dành cho những hợp đồng béo bở như quản lý tài sản xấu của ngân hàng đầu tư sụp đổ Bear Stearn và hãng bảo hiểm suýt đổ vỡ AIG, đánh giá danh mục đầu tư của hai tập đoàn tài chính địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac...

Năm 2009, BlackRock đã có được cơi hội để trở thành tập đoàn quản lý tài sản lớn nhất thế giới khi ngân hàng Barclays của Anh rao bán Barclays Global Investors để huy động vốn. BlackRock ngay lập tức chớp lấy cơ hội mua lại có một không hai này. Và chỉ 21 năm sau khi được Fink thành lập, BlackRock đã đứng trên mọi đối thủ khác ở mảng quản lý tài sản trên toàn cầu.

Lãnh đạo của BlackRock - Ảnh: Bloomberg.

7. HP thoát lỗ nhờ mua EDS

Năm nay chứng kiến những vụ sáp nhập lớn trong làng công nghệ, như vụ Oracle mua Sun Microsystems, Dell mua Perot Systems, Xerox mua Affiliated Computer Services, và HP mua 3Com.

Tuy nhiên, tới thời điểm này, những thương vụ trên chưa thể khẳng định điều gì về vấn đề lợi nhuận. Trong khi đó, vụ HP mua EDS từ năm 2008 đã giúp HP trở thành một đối thủ cạnh tranh ngang tầm với IBM. Nhờ lợi nhuận lớn từ EDS mà HP vượt qua được những khó khăn trong năm 2009 và không rơi vào thua lỗ.

Trụ sở của HP ở Mỹ - Ảnh: Reuters.

8. Google mua AdMob

Giống như các đối thủ, Google đang tìm cách thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực quảng cáo trên điện thoại di động. Đó là lý do Google tung 750 triệu USD để mua AdMob, công ty đi tiên phong trong việc đưa quảng cáo vào các ứng dụng trên chiếc điện thoại iPhone của Apple. “Quả táo” được cho là cũng có ý định mua lại AdMob nhưng chậm chân hơn Google.

AdMob được Omar Hamoui thành lập cách đây 3 năm khi còn đang theo học lấy bằng MBA tại Đại học Pennsylvania.

Google tung 750 triệu USD để mua AdMob - Ảnh: Reuters.

9. Time Warner chia tay AOL

Còn quá sớm để khẳng định việc “ly dị” AOL là một chiến lược khôn ngoan của Time Warner. Tuy nhiên, nếu xét tới việc vụ sáp nhập giữa Time Warner và AOL vào năm 2001 có thể bị xem là thương vụ tệ nhất trong lịch sử, thì vụ chia tay này cũng là việc nên làm.

10. Vụ IPO của Mead Johnson

Đầu năm nay, không ai nghĩ năm 2009 lại là một năm tốt đối với hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Tuy nhiên, thực tế diễn ra đã ngược lại. Thêm vào đó, vụ IPO đầu tiên của năm, vụ IPO của Mead Johnson, có lẽ là vụ phát hành cổ phiếu lần đầu thành công nhất năm nay.

Được thành lập vào năm 1905, Mead Johnson luôn đem lại lợi nhuận ổn định cho những nhà đầu tư thận trọng và kỹ tính. Sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu trên toàn cầu cũng hứa hẹn một thị trường đầy lợi nhuận cho các sản phẩm dinh dưỡng của Mead Johnson. Tới cuối tháng 11 vừa qua, giá cổ phiếu của Mead Johnson đã tăng khoảng 90% so với giá chào sàn 24 USD/cổ phiếu ở thời điểm IPO.

11/2/2009 là ngày Mead Johnson niêm yết cổ phiếu trên sàn New York - Ảnh: AP.

(Theo Time)-Vneconomy

Kuwait muốn giúp Dubai giải quyết khủng hoảng nợ

Ảnh minh họa.
Ngoại trưởng Kuwait Sheikh Mohammad Sabah al-Salem al-Sabah cho biết nước này sẵn sàng trợ giúp Dubai giải quyết khủng hoảng nợ. Tại cuộc họp báo ngày 15/12, sau Hội nghị cấp cao lần thứ 30 của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) tổ chức ở Kuwait City, Ngoại trưởng Kuwait cho biết ông đã khẳng định với Ngoại trưởng Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), ông Sheikh Abdullah bin Zayed, rằng Kuwait sẵn sàng có những hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết cho Dubai.

Ngày 25/11, tập đoàn địa ốc Dubai World và công ty con Nakheel ở Dubai yêu cầu gia hạn thêm 6 tháng để thanh toán khoản nợ 59 tỉ USD, làm dấy lên tâm trạng hoang mang trong khu vực tài chính trên toàn thế giới lo ngại món nợ khổng lồ của tiểu vương quốc lớn nhất UAE này có thể lan sang các khu vực lân cận.

Ngày 14/12, Abu Dhabi, một tiểu vương quốc cũng thuộc UAE tuyên bố trợ giúp khẩn cấp 10 tỉ USD cho Dubai giải quyết khoản nợ của Dubai World./.

(Theo TTXVN)

Wednesday, 16 December 2009

Dubai đánh đổi tự do lấy 10 tỷ USD từ Abu Dhabi?

Dù nhận được 10 tỷ USD tiền cứu trợ từ Abu Dhabi, nhưng Dubai vẫn nặng gánh nợ nần - Ảnh: Reuters.

Tung 10 tỷ USD cho Dubai World, Abu Dhabi thể hiện rõ quyết tâm thắt chặt sự quản lý mà từ lâu Dubai muốn kháng lại
Với việc tung “phao cứu sinh” trị giá 10 tỷ USD cho tập đoàn Dubai World vào ngày 14/12 vừa qua, Abu Dhabi đã đem đến cho “người láng giềng” Dubai một liều thuốc giải ngắn hạn trước sức ép của các chủ nợ. Tuy nhiên, với động thái như vậy, Abu Dhabi cũng thể hiện rõ quyết tâm muốn thắt chặt sự quản lý mà từ lâu Dubai muốn kháng lại.

Trong nhiều thập kỷ qua, Dubai đã thành công trong việc duy trì quyền tự trị đặc biệt trong Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Trong khi đó, Abu Dhabi vừa là trung tâm văn hóa-chính trị của UAE, vừa nắm giữ những lĩnh vực quan trọng nhất trong nền chính trị của UAE như ngoại giao và quốc phòng.

Quyền tự trị của Dubai đã giúp tiểu vương quốc không có nhiều tài nguyên dầu lửa này thúc đẩy một chiến lược phát triển kinh tế khác biệt so với những nước láng giềng khác trong UAE. Cánh cửa của Dubai rộng mở với tất cả mọi đối tượng, từ những chủ doanh nghiệp từ Iran và Israel, tới khách du lịch và những ông chủ nhà băng khao khát lợi nhuận từ phương Tây. Theo số liệu mà tờ New York Times đưa ra, 90% dân số ở Dubai là người nước ngoài.

Bất động sản và du lịch là hai ngành kinh tế mũi nhọn của Dubai, đóng góp 95% GDP của nước này trong năm 2008. Đặc biệt, với sự phát triển với tốc độ vào hàng nhanh nhất thế giới của ngành địa ốc, Dubai là địa chỉ của những tòa tháp cao nhất thế giới và những công trình có một không hai như dốc trượt tuyết trong nhà, đảo nhân tạo hình lá cọ...

Tuy nhiên, khoản nợ xấp xỉ 100 tỷ USD mà Chính phủ và các doanh nghiệp của Dubai tích tụ trong quá trình phát triển kinh tế bùng nổ đã cho thấy sự phát triển này là không bền vững.

Trên thực tế, một số nhà phân tích cho rằng, việc Dubai tuyên bố xin hoãn nợ 26 tỷ USD cho Dubai World hồi tháng trước có lẽ chính là quyết định cuối cùng mang tính “tự trị” mà tiểu vương quốc này đưa ra. Từ sau tuyên bố này, đặc biệt là sau gói hỗ trợ của Abu Dhabi, nhiều khả năng Dubai sẽ khó tự quyết được những vấn đề liên quan tới số phận của của mình.

Hiện còn chưa rõ lý do nào khiến Abu Dhabi đưa ra quyết định hỗ trợ Dubai. Tuy nhiên, theo một nguồn tin thân cận, quyết định này là kết quả của sự liên lạc thường xuyên trong mấy tuần qua giữa Tiểu vương của Dubai là Mohammed bin Rashid al-Maktoum và người anh họ của ông là Khalifa bin Zayed al-Nahyan - Tổng thống UAE.

Cũng theo nguồn tin này, những cuộc thảo luận về bản chất vấn đề nợ nần của Dubai giữa các nhà lãnh đạo trên đã khởi đầu cho sự tăng cường liên lạc và minh bạch hóa thông tin giữa các tiểu vương quốc trong UAE, và đây là một dấu hiệu cho thấy, từ nay trở đi, Abu Dhabi sẽ giám sát chặt chẽ hơn các quyết định của Dubai trong lĩnh vực tài chính và cả những lĩnh vực khác.

Sự ràng buộc về huyết thống cũng sẽ giúp phục vụ cho công tác này. Không chỉ hai tiểu vương đứng đầu Dubai và Abu Dhabi cùng là người của bộ lạc Bani Yas - những người đầu tiên định cư trên miền hoang mạc này từ thế kỷ 18 - mà hai bên còn có những mối liên kết thông qua con đường hôn nhân. Con gái Tiểu vương Mohammed của Dubai mới đây đã kết hôn với Mansour bin Zayed al-Nahyan, em cùng cha khác mẹ của Tiểu vương Khalifa của Abu Dhabi, đồng thời là một thành viên của Chính phủ UAE.

Bên cạnh đó, khoản nợ của Dubai World không chỉ đe dọa Dubai mà còn là một mối nguy với cả UAE, khiến Chính phủ UAE không thể khoanh tay đứng nhìn. Các chủ nợ của tập đoàn này đã tuyên bố họ có đủ khả năng buộc Dubai World vỡ nợ rồi giành lấy những tài sản trị giá nhất của Dubai, cũng là của UAE, bao gồm các cảng biển của Dubai.

Dù nhận được 10 tỷ USD tiền cứu trợ từ Abu Dhabi, nhưng Dubai vẫn nặng gánh nợ nần. Theo một nghiên cứu của Công ty EFG Hermes có trụ sở ở Dubai, tiểu vương quốc này sẽ đáo hạn phải thanh toán 60 tỷ USD tiền nợ trong vài năm tới, trong đó có hơn 16 tỷ là nợ của Chính phủ Dubai, còn lại là nợ của các doanh nghiệp.

(Theo New York Times)-Vneconomy

Tuesday, 15 December 2009

Ấn Độ, cường quốc kinh tế đang trỗi dậy

Thị trường chứng khoán Mumbai với mức giao dịch cổ phiếu tăng 76% kể từ đầu năm cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục của Ấn Độ là nguyên nhân chính khiến "hầu bao" của các "đại gia" nước này thêm nặng - Ảnh: Getty Images.

Chủ tịch Ngân hàng thế giới Robert Zoellick nhận định, nền kinh tế Ấn Độ đang có dấu hiệu phục hồi
Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) Robert Zoellick nhận định, nền kinh tế Ấn Độ đang có dấu hiệu phục hồi, thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu và trở thành một cực tăng trưởng mới của nền kinh tế thế giới.

Theo Chủ tịch WB R.Zoellick, Ấn Độ đang là một đối tác không thể thiếu của các cuộc đối thoại toàn cầu.

Tăng cường ảnh hưởng

Tiếng nói của nước này tại bàn thương lượng G-20 có sức mạnh quan trọng đối với việc thiết kế một cấu trúc kinh tế toàn cầu trong tương lai vì Ấn Độ không chỉ đang xử lý tốt ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà còn hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế thế giới. Vị thế một cường quốc kinh tế đang trỗi dậy của Ấn Độ gắn chặt với cách thức Ấn Độ tạo ra cơ hội và tầm bao quát. Ấn Độ được đánh giá là đang góp phần vào tăng trưởng kinh tế thế giới một cách mạnh mẽ và mới mẻ.

Chủ tịch WB nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của Ấn Độ cũng được phản ánh qua các chỉ số kinh tế với tốc độ tăng trưởng 8-9 %/năm trong những năm gần đây. Nhiều chuyên gia hy vọng nước này không chỉ trở thành một thị trường mà còn trở thành nhà cung cấp hàng loạt các dịch vụ và hàng hóa có hàm lượng tri thức cao.

Trong quý 3 năm nay, Ấn Độ đạt tăng trưởng kinh tế 7,9%; tăng 1,8% so với quý 2 và vượt tỷ lệ dự đoán 6,3% mà giới phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức tăng trưởng kinh tế cao nhất của quốc gia Nam Á này trong 18 tháng qua, nhờ sản lượng công nghiệp và chi tiêu của người tiêu dùng tăng do được hỗ trợ bởi các chương trình kích thích kinh tế, cắt giảm lãi suất và thuế để khuyến khích chi tiêu.

Nhà kinh tế thuộc Liên đoàn các Phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ (FICCI) Anjan Roy cho biết, năm nay giới doanh nghiệp đã vững tin hơn vào triển vọng kinh tế của Ấn Độ so với năm 2008. Kinh tế Ấn Độ đã xoay chiều, tăng trưởng trở lại, bất chấp sản lượng nông nghiệp sụt giảm do hạn hán.

Dự đoán, GDP của Ấn Độ trong cả năm 2009 sẽ vượt mức 7% và có khả năng đạt 9% trong năm tài chính tới. Vừa qua, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã mua của IMF 200 tấn vàng, trị giá 6,7 tỷ USD, nhằm củng cố nguồn tài chính trong nước.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vượt 100 tỉ USD

Mạng "Tin nhanh tài chính" của Ấn Độ cho biết, đầu tư FDI vào nước này từ năm 2000 đến tháng 7/2009 đã đạt 100,33 tỉ USD. Riêng 4 tháng đầu của tài khóa 2009-2010, FDI đã đạt 10,49 tỉ USD. Các nhà đầu tư lớn vào Ấn Độ là Singapore, Mỹ, Anh và Hà Lan.

Tổng thư ký Liên đoàn các Phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ FICCI Amit Mitra đánh giá, FDI mang lại công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý cho Ấn Độ. Còn nhà kinh tế hàng đầu của Ấn Độ D.K Joshi cho rằng dòng FDI đổ vào New Dehli sẽ tiếp tục cải thiện nếu đà phục hồi kinh tế được duy trì.

Mặc dù trong năm qua Ấn Độ ít bị ảnh hưởng của cơn bão tài chính toàn cầu hơn các nước phương Tây, nhưng nhiều công ty đã phải hoãn tăng lương, cấp tiền thưởng và tuyển dụng lao động, do lợi nhuận bị giảm bớt. Hiện nay các lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm, dịch vụ, công nghệ thông tin và bán lẻ tại Ấn Độ đã tuyển lao động trở lại.

Người đứng đầu công ty tham vấn về nhân lực Manpower India N.Malhan cho biết, Ấn Độ được đánh giá là nước đứng đầu thế giới có số chủ hãng thực sự muốn tuyển lao động cao nhất. Tiếp đến là Brazil, Colombia, Peru, Trung Quốc, Australia và Singapore.

Theo Tạp chí Forbes (Mỹ), số tỷ phú của Ấn Độ đã tăng gần gấp đôi trong một năm qua, từ 27 người lên 52 người, đa số phất lên nhờ sự phục hồi của thị trường chứng khoán thế giới. Thị trường chứng khoán Mumbai với mức giao dịch cổ phiếu tăng 76% kể từ đầu năm cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục của Ấn Độ là nguyên nhân chính khiến "hầu bao" của các "đại gia" nước này thêm nặng.

Ấn Độ được đánh giá là một trong những nước có tốc độ "sản xuất" tỷ phú nhanh nhất thế giới với tổng giá trị tài sản của 100 "đại gia" giàu nhất Ấn Độ là 276 tỷ USD.
Theo Vneconomy

Monday, 14 December 2009

Mark Mobius khẳng định thời kỳ xấu nhất của khủng hoảng nợ Dubai đã qua

Mark Mobius khẳng định thời kỳ xấu nhất của khủng hoảng nợ Dubai đã qua

Dù vậy, mọi chuyện chưa chấm dứt, Dubai World phải trả ít nhất sẽ là 55 tỷ USD trong 3 năm tới. Abu Dhabi có thể đòi thêm quyền lực sau khi cấp cho Dubai World 10 tỷ USD.


Một trong những nhà quản lý tiền tệ nổi tiếng của châu Á, ông Mark Mobius nhận xét cam kết của Dubai đối với tiêu chuẩn quốc tế về sự minh bạch và bảo vệ chủ nợ là một bước đi đúng hướng và rằng thời kỳ tệ nhất của khủng hoảng nợ Dubai đã qua.

Ông Mark Mobius, chuyên gia quản lý của quỹ Templeton Asset Management, trong bài phỏng vấn mới nhất qua điện thoại đã nhận xét: “Dubai công bố họ muốn trở nên minh bạch hơn và thông báo đầy đủ thông tin cho các bên. Đây là một bước đi đúng hướng quan trọng. Khi đưa ra thông tin đó, Dubai sẽ có thể có vị trí tốt trong khu vực Trung Đông.”

Ông nói: “Một phần trong số các khoản nợ cần được tái cơ cấu. Thế nhưng thời kỳ tệ nhát đa qua. Khi Dubai cam kết về tính minh bạch và quản trị tốt, Dubai có thể đứng đầu, không phải chỉ ở khu vực Trung Đông và còn trên toàn thế giới.”

Tập đoàn Dubai World sẽ sử dụng tiền từ Abu Dhabi, nước giàu nhất trong nhóm 7 nước thuộc Tiểu vương quốc Arập, để trả số nợ cho công ty bất động sản Nakheel trực thuộc, Khoản nợ đó đáo hạn vào ngày hôm nay. Số tiền còn lại dùng để trả lãi suất cho và dành cho chi phí hoạt động cho đến khi Dubai World đạt được thỏa thuận với các chủ nợ.

Ông Mobius cho biết sẽ đến Dubai vào ngày mai để gặp gỡ với các công ty và tìm kiếm cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư dài hạn tại thị trường chứng khoán nước này, quỹ của ông hiện cũng đang sở hữu cổ phần tại công ty bất động sản Emaar, công ty bất động sản xây dựng tòa tháp cao nhất tại Dubai.

Dubai có thể cần thêm hỗ trợ ngay cả sau khi nhận 10 tỷ USD từ Abu Dhabi

Nợ của DP World, Dubai Commercial Operations và công ty bất động sản Nakheel hiện ở mức thấp hơn khoảng 29% so với khi Dubai World công bố đang cố gắng thương lượng với các chủ nợ. Công ty xếp hạng tín dụng S&P cho rằng việc Abu Dhabi hỗ trợ Dubai World mới đây là không đủ để khiến cơ quan này thay đổi ý kiến với xếp hạng tín dụng của tập đoàn.

Abu Dhabi sẽ nắm thêm quyền lực tại Dubai World sau khi hỗ trợ tiền

Ông John Sfakianakis, chuyên gia kinh tế trưởng tại ngân hàng Banque Saudi Fransi ở Riyadh – Arập Saudi, nhận xét mọi chuyện sẽ chưa thể chấm dứt, Dubai World còn rất nhiều nợ trước mắt. Tổng số nợ phải trả trong 3 năm tới ít nhất sẽ là 55 tỷ USD.

Theo nhận định của ông Emad Mostaque, chuyên gia quản lý quỹ tại Pictet Asset Management, Abu Dhabi sẽ có thể đòi tăng quyền lực và ảnh hưởng tại Dubai World sau khi cung cấp tiền, những tài sản chiến lược của Dubai có thể trở thành tài sản chung của UAE.

Theo Dân Trí/EconomicTimes,Bloomberg

Venezuela thực hiện “cách mạng” tài chính

Tổng thống Hugo Chavez vừa tuyên bố chính phủ nước ông sẽ thành lập một thiết chế tài chính mới - Ảnh: Reuters.
Sau khi thực hiện quốc hữu hóa một số ngành quan trọng như: điện, xi măng, thép, dịch vụ dầu mỏ, trong vòng 2 năm qua, Tổng thống H.Chavez đang tiến hành cuộc “cách mạng” trong ngành tài chính với việc 8 ngân hàng bị đóng cửa trong 3 tuần qua và một số quan chức cấp cao trong ngành tài chính-ngân hàng đã bị bắt hoặc bị truy nã.
Tổng thống Hugo Chavez mới đây còn tuyên bố, chính phủ nước này sẽ thành lập một thiết chế tài chính mới do nhà nước quản lý từ một số ngân hàng tư nhân bị đóng cửa do vi phạm các quy tắc tài chính. Đồng thời, có thể sẽ đặt "toàn bộ các ngân hàng tư nhân" của Venezuela dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

Mở rộng điều tra các vụ bê bối

Ngày 12/12, Chính phủ Venezuela đã thông báo bắt giữ cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Quốc gia, ông A. Marquez Sanchez, với các cáo buộc liên quan đến tội phạm tài chính trong đó có biển thủ ngân quỹ.

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán A. Marquez Sanchez đã trở thành quan chức cao cấp thứ hai của Venezuela bị sa thải liên quan tới các vụ bê bối trong ngành ngân hàng nước này. Động thái trên diễn ra sau khi Tổng Chưởng lý Venezuela, bà Luisa Ortega Diaz, cho biết các cơ quan chức năng đang điều tra vai trò của Ủy ban Chứng khoán.

Ngày 6/12, Bộ trưởng Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Jesse Chacón, cũng đã từ chức vì em trai ông này dính líu tới hoạt động của một số ngân hàng "có vấn đề" và đã bị chính quyền đóng cửa.

Tuần trước, cảnh sát liên bang Venezuela cũng đã bất ngờ khám xét các văn phòng của Công ty Khứng khoán Caja Iberica de Valores trong cuộc điều tra vụ bê bối tài chính. Trước đó, các quan chức và nhân viên an ninh của Venezuela cũng đã khám xét 3 công ty kinh doanh chứng khoán khác và 2 công ty bảo hiểm liên quan đến vụ bê bối trên.

Hiện, họ đang truy tìm 22 thành viên hội đồng quản trị và cổ đông bị buộc tội có những hành động trái với quy định dẫn đến các vấn đề về tài chính của những ngân hàng bị cáo buộc có sai phạm quy tắc tài chính.

Ngân hàng bị cáo buộc“vi phạm nguyên tắc”

Liên quan tới cuộc điều tra các vụ bê bối ngân hàng, hiện Venezuela đã bắt giữ ít nhất 10 người, ra lệnh cấm đi lại đối với 15 người khác, đồng thời yêu cầu cảnh sát quốc tế (Interpol) hỗ trợ bắt giữ 9 nghi can bị nghi ngờ đã trốn ra nước ngoài. Hiện còn hơn 20 quan chức ngân hàng đang bị truy nã. Những đối tượng trên phải đối mặt với những cáo buộc vi phạm nguyên tắc tràn lan khiến nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng tài chính khó khăn.

BaNorte Banco là ngân hàng thứ 8, vừa bị đóng cửa cuối tuần qua do không còn khả năng thanh toán. Một quan chức giám sát khu vực ngân hàng cho biết tình trạng thiếu tiền mặt không cho phép BaNorte Banco đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong thời gian ngắn hạn. Chính phủ sẽ bảo lãnh cho hơn 90% số tiền gửi của gần 61.000 khách hàng gửi tiết kiệm tại ngân hàng này.

Trước đó, Chính phủ của Tổng thống Hugo Chavez đã đóng cửa 7 ngân hàng tư nhân do phát hiện nhiều vấn đề tài chính nghiêm trọng. Hầu hết các khoản tiền gửi của những ngân hàng này sẽ được quỹ bảo hiểm tiền gửi nhà nước kiểm soát.

Việc đóng cửa các ngân hàng nói trên diễn ra sau khi ông Chavez cảnh báo sẽ quốc hữu hóa bất kỳ ngân hàng tư nhân nào trên toàn quốc không tuân thủ luật pháp. Để tránh tình trạng người dân đổ xô đi rút tiền, giới chức phụ trách tài chính và ngân hàng của Venezuela tuyên bố hệ thống tài chính quốc gia vẫn vững chắc và đảm bảo với khách hàng gửi tiền tại các ngân hàng trên rằng họ sẽ không bị mất số tiền gửi tiết kiệm.

Tổng thống Hugo Chavez vừa tuyên bố chính phủ nước ông sẽ thành lập một thiết chế tài chính mới. Ngân hàng mới sẽ mang tên Banco Bicentenario, nhân kỷ niệm 200 năm giành độc lập của Venezuela vào năm tới. Ngân hàng này bao gồm Ngân hàng Nhà nước Banfoandes và phần còn lại của 4/8 ngân hàng hiện đang phải đóng cửa để điều tra là: Confederado, Central, Bolivar và Banco Real.
(Theo VnEconomy)

Abu Dhabi tung 10 tỷ USD cứu Dubai World

Giới phân tích nhận định, động thái giải cứu Dubai World từ tiểu vương quốc giàu có Abu Dhabi giống như một liều thuốc giải tỏa những mối lo xung quanh cuộc khủng hoảng nợ đã kéo dài hơn nửa tháng nay - Ảnh: Bloomberg.

Tiểu vương quốc Abu Dhabi vừa cam kết chi 10 tỷ USD để cứu tập đoàn đang gặp khó Dubai World của Dubai
Tiểu vương quốc Abu Dhabi vừa cam kết chi 10 tỷ USD để cứu tập đoàn đang gặp khó Dubai World của tiểu vương quốc láng giềng Dubai. Tuyên bố giải cứu này được công bố đúng ngày chi nhánh Nakheel của Dubai World đáo hạn phải thanh toán 4,1 tỷ USD trái phiếu Hồi giáo.

“Chính phủ Abu Dhabi đã nhất trí chi 10 tỷ USD để hỗ trợ cho Dubai World, giúp tập đoàn này giải quyết các nghĩa vụ nợ tới hạn”, ông Sheikh Ahmed bin Saaed al-Maktoum, Chủ tịch Ủy ban Tài chính tối cao của Dubai, cho hay.

Theo một thông báo khác từ Chính phủ Dubai, Dubai World sẽ dùng 4,1 tỷ USD trong số tiền giải cứu từ Abu Dhabi để thanh toán số trái phiếu trên. Số tiền còn lại sẽ được dùng để chi trả cho các đối tác và nhà thầu, đồng thời thanh toán lãi suất và trang trải chi phí hoạt động cho tới ngày 30/4/2010 trong trường hợp Dubai World thành công trong việc đàm phán hoãn nợ với các chủ nợ như đã thông báo.

Ngày 1/12 vừa qua, Dubai World cho biết sẽ đàm phán để tái cơ cấu lại số nợ 26 tỷ USD trong tổng số nợ 59 tỷ USD của tập đoàn này. Thị trường tài chính thế giới đã nghi ngờ về khả năng chi trả nợ của Dubai World sau khi chi nhánh Nakheel - chủ đầu tư dự án đảo nhân tạo hình lá cọ lừng danh - cho biết, họ lỗ hơn 3,6 tỷ USD trong nửa đầu năm nay.

Dù các cuộc đàm phán tái cơ cấu nợ giữa Dubai World và các chủ nợ đã được khởi động, nguy cơ vỡ nợ của tập đoàn này vẫn treo lơ lửng. Một số chủ nợ đã tuyên bố họ đủ sức buộc Dubai World vỡ nợ để giành quyền kiểm soát những tài sản có giá trị nhất của tập đoàn.

Mặc dù Dubai World là một tập đoàn quốc doanh của Dubai nhưng Chính phủ của tiểu vương quốc này đã tuyên bố rõ họ sẽ không bảo lãnh cho các khoản nợ của “đứa con” này.

Giới phân tích nhận định, động thái giải cứu Dubai World từ tiểu vương quốc giàu có Abu Dhabi giống như một liều thuốc giải tỏa những mối lo xung quanh cuộc khủng hoảng nợ đã kéo dài hơn nửa tháng nay này. Abu Dhabi và Dubai cùng nằm trong các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE).

“Thị trường sẽ được trấn an bởi thông tin này. Động thái của Abu Dhabi giúp củng cố thêm những hy vọng rằng, sự hỗ trợ của chính phủ đối với các khoản nợ do doanh nghiệp của Dubai phát hành là không hề thay đổi. Dù cuộc khủng hoảng nợ của Dubai World chưa được giải quyết hoàn toàn, nhưng đây rõ ràng là một bước đi đúng hướng”, ông Jason Watts, một chuyên gia thuộc ngân hàng National Australia Bank (NAB) có trụ sở ở Sydney, nói trong cuộc trả lời phỏng vấn hãng tin tài chính Bloomberg.

Thị trường chứng khoán thế giới đã phản ứng tích cực trước việc Dubai World được Abu Dhabi hỗ trợ. Các chỉ số chính của thị trường chứng khoán châu Âu khi mở đầu phiên giao dịch hôm nay lúc đầu giờ chiều theo giờ Việt Nam đã đồng loạt tăng điểm. Hàn thử biểu chủ chốt của thị trường chứng khoán Dubai đã tăng hơn 10%.

Trong khi đó, tỷ giá USD suy giảm, đẩy giá vàng thế giới phục hồi nhanh hơn.

Vào lúc 14h50 giờ Việt Nam, tỷ giá Euro/USD quốc tế là gần 1,47 USD đổi được 1 Euro, từ mức hơn 1,46 USD tương đương 1 Euro vào buổi sáng. Giá vàng giao ngay tại thị trường châu Âu lên mức hơn 1.127 USD/oz, từ mức 1.122 USD ở thời điểm 10h sáng nay. Giá vàng trong nước bán ra phổ biến ở mức 26,95 triệu đồng/lượng, tăng 150.000 đồng/lượng so với buổi sáng.

(Theo Bloomberg, BBC)-Theo Vneconomy

Sunday, 13 December 2009

Del Vecchio, tỷ phú được mệnh danh “Vua kính Italia”

picture

Tỷ phú Leonardo Del Vecchio.

MAI KHANH
15:02 (GMT+7) - Chủ Nhật, 13/12/2009

Ngành thời trang Italia không thể thiếu những chiếc kính, và thị trường kính cao cấp không thể thiếu mắt kính Luxottica

Ngành thời trang Italia không thể thiếu những chiếc kính, và thị trường kính cao cấp của vương quốc thời trang này không thể thiếu mắt kính Luxottica.

Người thợ đầu tiên làm nên những chiếc kính này là Leonardo Del Vecchio. Cuộc đời ông ngỡ như một câu chuyện cổ tích về giấc mơ của một cậu bé cô nhi viện, giấc mơ thoát nghèo và hiện thực lại là sự giàu có hạng tỷ phú cùng thương hiệu “Vua kính Italia”.

Đứng thứ 71 trong danh sách những người giàu nhất thế giới do tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn, Del Vecchio đã xây dựng đế chế kính mắt Luxottica của mình từ những mảnh ghép không trọn vẹn của cuộc đời mình.

Bắt đầu từ năm 1961 với một nhà máy chỉ có một phòng và 12 công nhân. Ngày nay, thương hiệu Luxottica của Del Vecchip đã có đến 35.000 nhân viên trên khắp thế giới và sản xuất gần 100.000 đôi mắt kính một ngày.

Từ con số không và những tháng năm nhọc nhằn

Những thành công của ông chủ 73 tuổi này là kết quả của một quá trình vật lộn với cuộc sống từ khi còn trong bụng mẹ. Sinh ra trong một gia đình bần cùng ở thành phố Milan (Italia), Del Vecchio đã mất đi người cha ngay từ khi ông mới được 4 tháng tuổi trong bụng mẹ.

Có gia đình mà cũng như không, Del Vecchio đã phải sống trong cô nhi viện đến 7 năm từ khi lọt lòng mẹ. Quãng thời gian trong cô nhi viện Martinitti ở thành phố Milan đã dạy cho cậu bé Del Vecchio tính tự lập cùng khả năng tìm tòi, sáng tạo để tự làm những thứ mình thích. Khéo tay, viết chữ đẹp, chăm chỉ làm việc và biết nghe lời, Del Vecchio được các sơ rất quý mến.

Del Vecchio bắt đầu làm việc năm 14 tuổi và không bao giờ ngừng làm việc. Đến nay, ông vẫn làm việc 14 tiếng một ngày cho dù đang ở trụ sở của Luxottica tại Agordo hay ở bất cứ một văn phòng chi nhánh nào của công ty mình.

Rời cô nhi viện trở về nhà, hoàn cảnh gia đình vẫn khó khăn như trước, Leonardo làm đủ mọi việc để phụ mẹ. Leonardo được nhận vào làm tại một xưởng sản xuất phụ tùng ô tô và gọng kính.

Công việc tại xưởng khá nặng nhọc đối với một cậu bé 14 tuổi, nhưng phải đương đầu với cuộc sống, phải kiếm tiền là động lực giúp cậu chiến thắng những vết trầy xước trên tay do những lần sơ ý bị dao mài kính cắt phải, và đôi chân tê cứng vì phải đứng làm việc đến hơn 14 tiếng mỗi ngày.

Cũng từ xưởng này, cậu bé Leonardo được phát hiện là có đôi tay vàng và một đầu óc nhanh nhạy, tinh tế. Chủ xưởng nhận ra điều đó và quyết định cho cậu chỉ làm ở xưởng sản xuất khung kính đồng thời cử cậu đi học vẽ và khắc tại trung tâm đào tạo nghề của thành phố. Chẳng bao lâu sau, khi mới 17 tuổi, Leonardo đã trở thành xưởng trưởng quản lý hơn 20 thợ.

Lập gia đình khi mới 21 tuổi, Leonardo tiếp tục cuộc sống vất vả tưởng như không nhìn thấy mặt trời của mình. Cậu thanh niên Leonardo phải làm việc đến 20 tiếng một ngày để kiếm đủ tiền nuôi vợ và hai con thơ. Ban ngày đi làm lĩnh lương, ban đêm ông làm thêm bất cứ việc gì để có thêm thu nhập cho gia đình.

Ý nghĩ tiếp tục thôi thúc trong đầu Leonardo là phải vượt ra khỏi khung kính của xưởng thợ, phải làm được chiếc kính của riêng mình. Leonardo quyết định chuyển gia đình đến thành phố Agordo, quê hương của nghề làm kính với 90% thị phần.

Tuy nhiên, gọng kính màu vàng ở đây chế tạo bằng chất xenlulo vừa đơn điệu, vừa không bền lại rất nguy hiểm vì đây là chất liệu dễ cháy. Nhiều người đã thử nghĩ đến việc dùng kim loại để làm gọng kính, nhưng lại không bán được vì mẫu mã vẫn còn quá thô kệch.

Cũng trong thời gian đó, rất nhiều nghệ sĩ rock&roll từ Mỹ đến Italia biểu diễn. Họ mặc quần jeans, những chiếc áo chim cò. Và cả khi biển vào mùa hè, hàng ngàn người ra biển tắm, cưỡi mô tô nước và đeo kính râm. Một ý tưởng lóe lên trong suy nghĩ của Leonardo, kính không đơn thuần chỉ để bảo vệ mắt mà còn là mode, là thể hiện gu thời trang của từng người.

Với số vốn nho nhỏ sau những năm lao động cực nhọc, Leonardo bắt đầu mở xưởng sản xuất kính tại nhà. Lần đầu tiên lao vào công việc mới mẻ này, cả gia đình cùng nhau phụ giúp ông.

Leonardo kể: “Trong những năm 60-70, khi làm những đôi mắt kính, tôi đã khắc bằng tay những hoa văn bằng nhôm mà người ta quen thấy trên những gọng kính thời bấy giờ!”. Vợ ông tô màu từng gọng kính một, con ông dán những băng dính lên các phần gọng mà khách hàng muốn giữ lại màu sắc tự nhiên. Cứ như thế Luxottica cho ra đời những sản phẩm của chính mình.

Từ xưởng sản xuất gia đình, ông thuê thêm 14 thợ và kêu gọi hỗ trợ tài chính từ những tổ chức xúc tiến kinh tế trong nước. Và thương hiệu Luxottica cùng dây chuyền sản xuất kính công nghiệp được manh nha từ đó. Bước đầu tiên chinh phục thị trường, Leo cho sản xuất hàng loạt kính râm gọng to, che khuất nửa gương mặt. Ngay cả khi chiều buông, tại các bãi biển người ta cũng đeo kính để tham gia vũ hội. Kính dường như đã là “một phần không thể thiếu của cuộc sống”.

Trước đây, phần lớn các cơ sở đều sản xuất theo công đoạn: một xưởng chuyên sản xuất gọng kính, một xưởng chuyên sản xuất càng kính, xưởng thứ ba là mắt kính và cuối cùng là xưởng lắp kính. Có nhà sản xuất chuyên về gọng kính nhựa, người khác lại gọng kính sắt. Như vậy để chiếc kính ra đến thị trường là rất khó khăn và rất chậm, chứ chưa nói đến bộ sưu tập các kiểu kính.

Leonardo nhận ra điểm yếu này và quyết định thành lập nhà máy riêng của mình. Đó không phải là kính nữa mà là nghệ thuật, phù hợp với từng bộ váy áo, complet, thậm chí đến cả giày dép, túi xách... Sau khi chuẩn bị cả một thời gian dài, vào năm 1961 tại thành phố Agordo, Leonardo Del Vecchio khai trương hãng Luxottica. Nói cách khác, nhà doanh nhân trẻ đã sẵn sàng cho việc chinh phục các đỉnh cao trong sản xuất kính.

Đến thương hiệu “Số một trong công nghiệp mắt kính”

Được mệnh danh là người Italia số 1 trong công nghiệp mắt kính, Leonardo Del Vecchio giờ đây phải đóng thuế nhiều hơn cả các trùm tư bản ở Italia là Benlusconi và Agnelli.

Năm 1971, lần đầu tiên Leonardo del Vecchio tham dự Hội chợ Milan. Lúc này mắt kính của ông đã có chỗ đứng trên thị trường. Leonardo mua lại tất cả các cổ phần của những người hợp tác với mình và bắt đầu liên doanh với một nhà máy ở Mantone. Đây là bước nhảy vọt của Luxottica. “Sản phẩm của chúng tôi hoàn toàn mới về kiểu dáng, giá cả rất hấp dẫn và chỉ do một nhà sản xuất làm ra” - Leonardo nhớ lại. Và từ đó xuất hiện “hệ thống liên kết dọc - một hãng chế tạo và sản xuất nhiều loại kính” rất phổ biến trong sản xuất kính ngày nay.

Đến những năm 80, mắt kính Luxottica đã chiếm lĩnh hầu hết thị trường trong nước. Năm 1981, Leonardo mua lại xí nghiệp Ster Oflex và thiết lập mối quan hệ buôn bán đầu tiên ở Muniel thuộc Cộng hòa liên bang Đức.

Năm 1982, ông mua tiếp 50% cổ phần của tập đoàn kính Avantgande Ones ở New York (Mỹ). Một năm sau, Luxottica mở chi nhánh tại Espana 5A ở Barcelona (Tây Ban Nha) và dần lấn bước sang các thị trường rộng lớn khác như Anh, Pháp, Canada, Thụy Điển.

Đến thập kỷ 1990, Leonardo tiếp tục đầu tư vào các thị trường Nhật, Bồ Đào Nha, Bỉ, Hy Lạp và bước chân đến thị trường chứng khoán phố Wall của nước Mỹ. Luxottica là công ty duy nhất trên thế giới có mặt ở thị trường chứng khoán nước ngoài, mà niêm yết tại thị trường chứng khoán của nước mình. Cũng trong năm 1991, ông đứng đầu trong danh sách những doanh nhân thành đạt nhất Italia do Nhật báo II Messagero bình chọn.

Luxottica đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 55 của mình vào năm 1991 bằng sự kiện trở thành thương hiệu kính số 1 thế giới xét về doanh số bán hàng, các kênh phân phối và kiểu dáng được ưa chuộng nhất.

Leonardo hầu như không có thời gian rảnh, ông rất ít khi đến các bữa tiệc, không muốn vui chơi và hoàn toàn trốn tránh chính trị. Nếu không có mặt ở New York, Stockholm, Tokyo hay các văn phòng làm việc, chắc chắn Leonardo đang miệt mài làm việc trong xưởng sản xuất ở Agordo. Đó là một tòa nhà lớn đầy kính nằm ở giữa, dưới tầng trệt những công nhân mặc áo xanh da trời đang sản xuất kính, trên tầng 2, Leonardo vừa vẽ kiểu, vừa sản xuất, vừa bán sản phẩm của mình.

Khi được hỏi về bí quyết thành công, vua mắt kính nói: “Tôi không có điều gì bí mật. Tôi làm việc, luôn tái đầu tư và định hướng trong công nghiệp hóa. Để thắng cuộc tôi luôn soạn chương trình cẩn thận cho các mục tiêu của mình".

Đến năm 1995, hãng sản xuất 70 ngàn chiếc kính/ngày và 15 triệu chiếc/năm. Chính Leonardo là người mẫu mực cho các công nhân của mình, ông làm việc 14 tiếng một ngày, hầu như không nghỉ, ngoại trừ một tháng hè nghỉ ngơi ở nước Pháp.

Bước sang năm 1999, Luxottica nâng mức sản xuất lên 81 ngàn chiếc kính/ngày và phân định rõ ràng các dòng kính. Trước hết là các thương hiệu của hãng như Luxottica, SferoFlex, Vogue, Persol, T3. Sau đó là thương hiệu nhượng quyền gồm Armani, Saint Laurent, Genny, Brooks Brothers, Anne Klein, Ferragamo.

Cũng từ thập niên 1990, Leonardo đã bắt đầu nhìn nhận Mỹ như thị trường lớn nhất cần thâm nhập. Năm 1995, Luxottica mở “cuộc tấn công” vào đây bằng cách mua lại US Shoe Corporation, đơn vị nắm giữ gần 900 cửa hàng bán kính thuộc LensCrafters trên khắp nước Mỹ. LensCrafters cũng là nơi đầu tiên trên thế giới nhận đặt kính và giao hàng trong đúng 1 giờ đồng hồ.

Thương hiệu lớn nhất của Luxottica là Ray-Ban. Đây là thương hiệu mà Tổng thống Pháp - Nicolas Sarkozy hay ca sĩ lừng danh Ringo Starr yêu thích. Vào năm 1999, ông mua thương hiệu Ray-Ban từ Bausch & Lomb – một hãng sản xuất kính đang gặp khủng hoảng. Sau đó Leonardo cải tiến, đưa thêm nhiều chi tiết, thay đổi kiểu dáng kính Ray-Ban, biến nó thành sản phẩm thuộc hàng cao cấp, sang trọng.

Với chiến lược bành trướng rất bài bản, doanh thu trong năm 2001 của Luxottica tăng 24%, đạt 290 triệu USD với doanh số bán hàng lên đến 2,8 tỷ USD, nhờ đó, CP của Luxottica trên thị trường chứng khoán New York tăng giá 18,7% vượt xa bước tiến 10,2% của cả thị trường.

Tính đến nay, Leonardo nắm giữ 13 thương hiệu luxury nhượng quyền và 7 thương hiệu của riêng mình. Chỉ có Tập đoàn Safilo của Italia vượt Luxottica về mặt này. Nhưng về lợi nhuận ròng thì Luxottica là vô địch.

Riêng năm 2007, doanh số kính của Leonardo bán ra đạt 5 tỉ USD, trong đó 2/3 thu được từ bán lẻ với 5.627 cửa hàng bán kính khắp thế giới và 52.000 quầy bán kính trong các siêu thị.

Năm 2008, Luxottica mua lại hãng Oakley tại Mỹ để đầu tư công nghệ cao của hãng này vào sản xuất kính. Theo kế hoạch, năm 2009 doanh số bán hàng của Luxottica sẽ tăng 27% so với năm 2007.
Nguồn: Vneconomy

Wednesday, 9 December 2009

Bằng cử nhân mất giá ở Mỹ

picture

Đối với nhiều người Mỹ ngày nay, việc học lên đại học cũng chỉ giống như thi lấy bằng lái xe - Ảnh: Time/Getty.

Giờ đây, tấm bằng đại học bị xem là không còn nhiều giá trị tại nền kinh tế lớn nhất thế giới

Các nhà tuyển dụng và chuyên gia về thị trường việc làm tại Mỹ cho rằng, nước này đang ở trong tình trạng dư thừa cử nhân, trong đó nhiều sinh viên ra trường với một khoản vay học hành không nhỏ.

Giờ đây, tấm bằng đại học bị xem là không còn nhiều giá trị tại nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Thị trường việc làm Mỹ ảm đạm trong thời gian suy thoái không phải là khó khăn duy nhất đối với những người sở hữu bằng đại học ở Mỹ hiện nay. Vào thời điểm năm 1973, nước Mỹ hiếm cử nhân hơn, với chỉ 47% số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học tiếp tục học lên đại học. Nhưng tới tháng 10/2008, tỷ lệ này đã tăng lên gần 70%. Đối với nhiều người Mỹ ngày nay, việc học lên đại học cũng chỉ giống như thi lấy bằng lái xe.

Ông Marty Nemko, một chuyên gia về nghề nghiệp và giáo dục thuộc Đại học California, cho rằng, số lượng cử nhân đông đảo tại Mỹ là kết quả của việc nhiều học sinh có học lực yếu ở phổ thông nhưng vẫn cố theo lên đại học mặc dù lựa chọn khác có thể tốt hơn cho những em này. Do đó, nhiều sinh viên ra trường không có đủ những kỹ năng cần thiết, làm các nhà tuyển dụng mất niềm tin vào cử nhân.

“Học sinh đang chịu áp lực lớn trong việc phải học đại học. Bởi vậy, tấm bằng đại học mà giờ đây chẳng còn nhiều ý nghĩa với nhà tuyển dụng nữa”, ông Nemko nói.

Tuy nhiên, chi phí để có được tấm bằng đại học tại Mỹ chẳng hề giảm. Mùa thu năm nay, học phí đại học bình quân ở Mỹ tăng 6,5%, đồng thời số tiền vay ăn học của sinh viên Mỹ cũng gia tăng.

Thống kê cho thấy, 2/3 sinh viên Mỹ ra trường hiện nay với gánh nặng nợ nần. Vào năm 2008, số nợ tiền vay ăn học của mỗi tân cử nhân ở Mỹ là 23.200 USD. Theo Bộ Giáo dục Mỹ, trong năm học trước, tổng tiền cho sinh viên vay ăn học ở Mỹ tăng 18% so với năm học trước đó, lên mức 81 tỷ USD.

Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của đối tượng cử nhân mới tốt nghiệp ở Mỹ cũng tăng, hiện ở mức cao kỷ lục 10,6%.

Các sinh viên mới đặt chân vào ngưỡng cửa đại học cũng thừa biết sự mất giá của tấm bằng cử nhân.

Từ lâu, Viện Nghiên cứu giáo dục bậc cao (HERI) của Mỹ đã tiến hành các cuộc nghiên cứu thường niên nhằm thăm dò ý kiến của các tân sinh viên xem họ muốn phấn đấu tới bằng cấp nào.

Vào năm 1972, 38% số người trả lời rằng học sẽ học đến đại học là cùng, nhưng tới năm 2008, chỉ 22% chọn câu trả lời này. Trong khi đó, số tân sinh viên dự kiến lấy bằng cao học đã tăng từ mức 31% vào năm 1972 lên mức 42% vào năm 2008.

“Nhiều năm trước, bằng đại học là chìa khóa để tìm được công việc tốt. Nhưng ngày nay, mọi người phải cần nhiều hơn thế”, ông John Pryor, Giám đốc HERI, nhận xét.

(Theo Time)-Vneconomy

Châu Âu lo vỡ nợ công

picture

Một góc thủ đô Athens của Hy Lạp.

Thị trường tài chính toàn cầu đang đối mặt với những nỗi lo mới sau khi Hy Lạp bị đánh tụt hạng mức tín nhiệm nợ

Thị trường tài chính toàn cầu đang đối mặt với những nỗi lo mới sau khi Hy Lạp bị đánh tụt hạng mức tín nhiệm nợ. Trái phiếu chính phủ Hy Lạp tụt hạng tín nhiệm trong bối cảnh nỗi lo ngại leo thang xung quanh tình hình tài chính công của nước này.

Trong lúc tình hình khủng hoảng nợ Dubai còn chưa ngã ngũ, diễn biến mới từ Hy Lạp làm căng thẳng thêm những mối lo tình hình nợ công của nhiều quốc gia ở châu Âu như Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha...

Với lý do tình hình tài chính công của Hy Lạp xấu đi, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings ngày 8/12 đã hạ một hạng định mức tín nhiệm nợ của nước này từ mức A- xuống BBB+. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm trở lại đây, một hãng đánh giá tín nhiệm dành cho Hy Lạp định mức tín nhiệm nợ dưới hạng A.

Cũng theo Fitch, triển vọng đối với định mức tín nhiệm nợ BBB+ của Hy Lạp hiện nay là tiêu cực, đồng nghĩa với việc tiếp tục tụt hạng xa hơn có khả năng xảy ra trong thời gian tới. Cùng với đó, Fitch còn hạ mức tính nhiệm của 5 ngân hàng Hy Lạp vì cho rằng, khả năng hỗ trợ các nhà băng của Chính phủ nước này đã giảm xuống.

Hai hãng xếp hạng tín nhiệm khác là Moody’s và Standard&Poor’s hiện cũng đang cảnh báo về khả năng đánh tụt định mức tín nhiệm của Hy Lạp.

Tình hình tài chính công của Hy Lạp đang xấu đi trông thấy khi “núi” nợ của nước này được dự báo sẽ lên tới 150% GDP trong năm tới, đưa quốc gia này thành nước có tỷ lệ nợ công so với GDP cao nhất trong số 16 quốc gia sử dụng đồng Euro (khu vực Eurozone).

Lo ngại trước thực tế này, Liên minh Châu Âu (EU) đã gia tăng áp lực buộc Athens phải đưa tình hình tài chính công về tầm kiểm soát.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Thụy Điển Anders Borg, người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng Tài chính EU, cho rằng, Hy Lạp cần nhìn nhận nghiêm túc về tình hình tài chính công của nước này. “Bất kỳ quốc gia nào có mức thâm hụt ngân sách 10-12% đều không có lựa chọn nào khác ngoài việc đưa ra những quyết định chuẩn xác”, ông Borg nói.

Theo dự báo, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp sẽ lên tới 12,7% trong năm nay. Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp, ông George Papaconstantinou, tuyên bố, Chính phủ nước này sẽ làm mọi việc cần thiết để giảm thâm hụt ngân sách ít nhất 3,6% về mức 9,1% trong năm tới. Tuy nhiên, thị trường nghi ngờ về khả năng các nhà chức trách Hy Lạp có thể thực hiện việc mạnh tay cắt giảm ngân sách, vì Chính phủ hiện tại của Hy Lạp trúng cử nhờ những lời hứa về tăng hỗ trợ dân nghèo.

Hiện tại, EU đã cho Athens thời gian vài tuần để đưa ra những biện pháp giảm thâm hụt ngân sách cụ thể, nếu không, Hy Lạp có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt.

Ông Jean-Claude Juncker, người đứng đầu nhóm các bộ trưởng bộ tài chính Eurozone, khẳng định, Hy Lạp hiện không có nguy cơ vỡ nợ.

Tuy nhiên, thị trường lo ngại, rắc rối ở Hy Lạp sẽ mở màn cho những cú sốc khác về nợ tại một số quốc gia nữa trong khu vực Eurozone như Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Đây là những quốc gia chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng tài chính.

Thị trường chứng khoán thế giới hôm qua và sáng nay đã mất điểm mạnh trước thông tin từ Hy Lạp và nguy cơ vỡ nợ của tập đoàn Dubai World.

Hai đầu tàu của kinh tế Hy Lạp là du lịch và vận tải biển đã chịu nhiều tác động bất lợi trong thời gian suy thoái toàn cầu, khiến nguồn thu của Chính phủ nước này sa sút.

Mặc dù suy thoái kinh tế tại Hy Lạp không nghiêm trọng như ở nhiều quốc gia thuộc Eurozone khác, nhưng quốc gia 10 triệu dân và đóng góp 2,5% GDP của toàn khu vực Eurozone này phải đối mặt với những vấn đề dài hạn như tốc độ tăng trưởng thấp, sức cạnh tranh suy giảm, doanh thu thuế thấp và dân số lão hóa.

(Theo Reuters)-Vneconomy

Tuesday, 8 December 2009

Gia đình sáng lập ra tập đoàn Wal-Mart giàu nhất Mỹ

Gia đình sáng lập ra tập đoàn Wal-Mart giàu nhất Mỹ

Trong danh sách những gia đình giàu nhất nước Mỹ năm nay, nhà Walton vẫn đứng cao nhất, với tổng tài sản 90 tỷ USD, hơn gấp đôi so với vị trí tiếp theo.


Những gia đình giàu nhất Mỹ bao gồm những “đại gia” trong lĩnh vực ngân hàng, truyền thông và bán lẻ.

Đối với gia đình Sam Walton, giá thấp đồng nghĩa với tài sản khổng lồ. Năm 1985, Walton là người giàu nhất Mỹ. Năm 1992 khi ông qua đời, tài sản của ông và gia đình ông được định giá ở mức 23 tỷ USD, đây là kết quả của quá trình tập đoàn ông bán mọi mặt hàng ở mức giá mà không đối thủ nào có thể cạnh tranh nổi.

Với phương châm bán giá rẻ, gia đình Walton đã tạo ra cả một thế giới hàng hóa giá rẻ. Mặt hàng hết sức đa dạng, Wal-Mart cung cấp mọi thứ từ lốp xe đến spagetti với cái giá mà không một đối thủ nào có thể cạnh tranh được. Ngày nay, chuỗi siêu thị của Wal-Mart đem lại doanh thu hàng năm 401 tỷ USD với 4.200 cửa hàng và 2 triệu nhân công.

Trong suốt mấy thập kỷ qua, Wal-Mart đã xây dựng hình ảnh là nơi mua hàng giá rẻ của tất cả mọi người. Theo chuyên gia phân tích Bill Dreher của Deutsche Bank, mùa lễ hội cuối năm nay sẽ là “một Giáng sinh của Wal-Mart.”

Tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới Wal-Mart của Mỹ ngày 12/11 thông báo đạt lợi nhuận 3,23 tỷ USD trong quý 3/2009, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái, doanh số bán hàng đạt 98,6 tỷ USD, tăng 11%.

Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành Wal-Mart, Mike Duke cho biết trong quý 3/2009, môi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn, nhưng lượng khách hàng tăng lên.

Wal-Mart đã giành thêm thị phần, đặc biệt ở Mỹ, Anh và Mexico, khi vẫn giữ vững niềm tin của khách hàng trên toàn cầu về giá cả và chất lượng hàng hóa.

Ông Tom Schoewe tin tưởng rằng Wal-Mart có vị trí tốt hơn bất kỳ nhà bán lẻ nào khác để có thể thu hút khách hàng trong mùa nghỉ lễ sắp tới.

Trong khi các tập đoàn khác của Mỹ đua nhau sa thải nhân công nhằm đối phó khủng hoảng, Wal-Mart đã tạo việc làm cho khoảng 63.000 lao động trên toàn cầu trong năm 2009, trong đó có hơn 33.000 lao động tại Mỹ.

Ngày nay, con cháu nhà Walton bao gồm hai con trai, một con gái, một con gái nuôi và hai cháu gái có tài sản 90 tỷ USD – họ đủ tiềm lực tài chính để trở thành gia đình giàu nhất Mỹ.

Gia đình Walton giàu đến nỗi tổng tài sản của họ gấp đôi tài sản của gia đình giàu thứ hai nước Mỹ - gia đình Koch với tổng tài sản ít nhất khoảng 40 tỷ USD.

4 anh em nhà Koch là con trai của ông Fred C. Koch, người đầu tư phát minh ra phương pháp chuyển dầu sang xăng. Mỗi con trai của ông đều sở hữu cổ phần tại Koch Industries khi ông Fred qua đời vào năm 1967.

Ngày nay, Koch Industries nằm trong nhóm công ty tư nhân hàng đầu nước Mỹ có doanh số lớn nhất, sản phẩm của hãng hết sức đa dạng, từ sản phẩm dệt cho đến thuốc trừ sâu. Charles và David Koch, mỗi người sở hữu 42% cổ phần của Koch Industries và giàu hơn rất nhiều so với hai người anh em còn lại trong gia đình.

Đứng thứ 3 trong bảnh danh sách những gia đình giàu nhất Mỹ là gia đình Mars với đại diện gia đình là những người anh em John, Jacqueline và Forrest Jr.

Năm 1911, Frank cha đã chính thức khởi nghiệp xây dựng Mars – ngày nay là tập đoàn cung cấp các sản phẩm bánh kẹo lớn nhất thế giới với doanh số hàng năm khoảng 30 tỷ USD. Hãng đưa ra sản phẩm socola M&M năm 1941 và sau đó đưa ra thêm sản phẩm Milky Way, Snickers và 3 Musketeers.

Ba anh em nhà Frank đã thừa hưởng tài sản từ Frank cha vào năm 1999 khi ông này qua đời.

Danh sách những gia đình giàu nhất Mỹ được Forbes tổng hợp số liệu về tiểu sử, khả năng tài chính và thông tin về những cá nhân trong quá khứ và hiện tại.

25 gia đình giàu nhất Mỹ có tổng tài sản đạt 418 tỷ USD. Xét đến những yếu tố bí mật về tài sản của các gia đình quý tộc Mỹ, mức tài sản trên chỉ có thể được coi là tối thiểu.

Trong số 25 gia đình giàu nhất Mỹ, 44% gia đình thừa hưởng tài sản từ những công ty được sáng lập vào thế kỷ 19. 36% gia đình có tài sản nhờ những công ty được thành lập trong nửa đầu thế kỷ 20.

Gia đình nằm trong danh sách gia đình giàu nhất Mỹ thời gian lâu nhất là gia đình du Pont. Gia đình du Pont đứng thứ 8 với tổng tài sản ít nhất 15 tỷ USD. Người sáng lập ra công việc kinh doanh của tập đoàn du Pont là ông Pierre Samuel du Pont de Nemours. Ông đã nhập cư vào Mỹ năm 1800.

Con trai của ông là giáo sư hóa học, người đã xây nhà máy cung cấp thuốc súng tại Wilmington năm 1802. Giá trị vốn hóa thị trường của của công ty E.I. du Pont de Nemours & Company đạt 32 tỷ USD.

Năm 1965, tạp chí Time đưa tin có 1.600 người thuộc gia đình du Pont sống tại Mỹ, con số này ngày nay còn cao hơn.

Một số tên tuổi lớn hiện đã vắng bóng trong bảng xếp hạng bao gồm gia đình Ford (cổ phiếu giảm giá), gia đình Carnegies, và gia đình Kennedy.

Gia đình Ford, dù chỉ sở hữu 3% cổ phần nhưng nắm tới 40% quyền bỏ phiếu, sẽ cần phải tăng gấp 5 lần số cổ phần nắm giữ để có thể nằm trong danh sách trên.

Theo Dân Trí/Forbes

Chủ nợ tuyên bố đủ sức buộc Dubai World vỡ nợ

Hoạt động xây dựng tại Dubai Marina, Dubai, Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) - Ảnh: Getty Images.

Một số chủ nợ nước ngoài tuyên bố họ có đủ sức mạnh để buộc Dubai World vỡ nợ
Giữa lúc các bên liên quan đang “lên dây cót” cho cuộc đàm phán tái cơ cấu khoản nợ 26 tỷ USD của Dubai World, một số chủ nợ nước ngoài tuyên bố họ có đủ sức mạnh để buộc Dubai World vỡ nợ và giành quyền sở hữu những tài sản có giá trị nhất của tập đoàn này.

Khởi xướng chiến lược buộc Dubai World vỡ nợ là QVT, một quỹ đầu tư có trong tay 8,5 tỷ USD. Quỹ này vốn nổi tiếng với vai trò đi đầu giải quyết những sự cố đầu tư phức tạp khi con nợ lâm vào cảnh vỡ nợ, phá sản. Cùng với các quỹ đầu cơ khác, QVT là chủ nợ nắm giữ một khối lượng lớn trái phiếu Hồi giáo do Nakheel, công ty con của Dubai World phát hành.

Thay vì tìm cách giành quyền sở hữu tài sản cầm cố cho số trái phiếu này - vốn là những mảnh đất “đắc địa” có hướng quay về phía biển của Dubai World - QVT và các chủ nợ nước ngoài khác mới đây tuyên bố họ sẽ kiện tập đoàn này lên tòa án ở Anh để giành lấy những tài sản nặng ký hơn, bao gồm các cảng biển và tài sản bất động sản của Dubai World ở nước ngoài. Những tài sản này đang nằm dưới sự quản lý của Istithmar, chi nhánh đầu tư của Dubai World.

Chiến lược trên của các chủ nợ có thể đẩy Dubai World vào một trận chiến pháp lý kéo dài. Nhiều tài sản mà các chủ nợ này đòi giành quyền sở hữu có ý nghĩa chiến lược rất cao đối với Dubai World, nhưng tập đoàn này khó mà giữ nổi.

Do ảnh hưởng của những thông tin này, thị trường chứng khoán của Dubai đã lao dốc mạnh, xuống mức thấp nhất trong 5 tháng qua trong phiên giao dịch ngày 8/12.

Thái độ cứng rắn trên của một số chủ nợ phần nào cho thấy sự phức tạp và những tranh cãi gay gắt xung quanh các cuộc đàm phán nợ sắp diễn ra. Nhiều lãnh đạo ngân hàng là chủ nợ hiện vẫn khẳng định rằng, việc Dubai World xin hoãn nợ 6 tháng là một lựa chọn của tập đoàn này chứ không phải là một động thái mang tính cần thiết.

Các chủ nợ của Dubai World ban đầu vẫn một mực tin rằng, các chính phủ Dubai và Abu Dhabi sẽ bảo lãnh nợ cho Dubai World. Tuy nhiên, Dubai đã chính thức tuyên bố họ không bảo lãnh nợ cho Dubai World, mặc dù đây là một tập đoàn quốc doanh của tiểu vương quốc này. Tiểu vương quốc láng giềng giàu có của Dubai là Abu Dhabi cũng đã khẳng định rõ, họ sẽ không trả nợ đậy cho Dubai World.

Cuộc khủng hoảng nợ Dubai nổ ra sau khi Dubai World tuyên bố xin khất nợ đối với số tiền vay 26 tỷ USD trong tổng số 59 tỷ USD tiền nợ mà tập đoàn này có nghĩa vụ phải trả. Trong trường hợp tới cuối tháng 12 mà 25% số chủ nợ của Dubai World vẫn chưa chịu nhất trí cho hoãn nợ, thì chi nhánh Nakheel của tập đoàn này có thể bị xem là đã vỡ nợ.

Do Dubai World là đối tượng bảo lãnh cho trái phiếu do Nakheel phát hành, nên nếu Nakheel vỡ nợ, thì tập đoàn mẹ sẽ đứng trước nguy cơ bị mất tài sản.

Giới phân tích cho rằng, Dubai World có thể đi trước các chủ nợ một bước bằng cách bán trước tài sản. Một quan chức của Dubai World cho biết, tập đoàn này đã bắt đầu việc bán lại số cổ phần 2,2% trong ngân hàng Standard Chartered của Anh.

(Theo New York Times)

Monday, 7 December 2009

Citigroup và chính phủ Mỹ “bất đồng”

Citigroup và chính phủ Mỹ “bất đồng”

Citigroup và chính phủ Mỹ hiện đang bất đồng về việc ngân hàng này nên tăng vốn thêm bao nhiêu để có tiền trả lại cho chính phủ Mỹ.


Sự bất đồng này có thể không sớm chấm dứt trong nhiều tuần và tháng tới.

Citigroup và Mỹ cần phải giải quyết những câu hỏi liên quan đến việc chính phủ sẽ ngưng nắm giữ 7,7 tỷ cổ phiếu tương đương giá trị 31 tỷ USD ở mức giá cổ phiếu hiện tại.

Bất đồng khác giữa hai bên còn là chính phủ sẽ ngưng đảm bảo những tài sản có vấn đề như thế nào.

Tuần trước, Bank of America đã hoàn thành đợt tăng vốn thêm 19,3 tỷ USD, đồng thời thông báo kế hoạch trả lại tiền đã nhận từ Chương trình giải trừ tài sản xấu (TARP). Nhà đầu tư và thị trường hiện đang chú ý đến các động thái tương tự từ các ngân hàng khác.

Chính phủ Mỹ hiện đang nắm rất nhiều kiểm soát tại Citigroup, trong đó có quy định lương thưởng các giám đốc điều hành. Khả năng giữ chân những giám đốc điều hành và nhân viên giỏi của Citigroup sẽ bị hạn chế.

Citigroup gặp nhiều khó khăn hơn Bank of America trong việc muốn trả lại tiền cho chính phủ còn bởi Citigroup nhận nhiều tiền hơn. Chính phủ Mỹ sở hữu đến 1/3 tổng số cổ phiếu của Citigroup, Citigroup cũng đã chuyển một lượng lớn cổ phiếu thường sang cổ phiếu ưu đãi.

Chính phủ cũng đảm bảo một danh mục các tài sản của Citigroup. Danh mục này có tổng giá trị 182 tỷ USD tính đến cuối quý 3/2009.

Trong khi đó, chính phủ không sở hữu cổ phiếu phổ thông của Bank of America và không đảm bảo danh mục tài sản nào của Bank of America.

Một yếu tố khác ngăn Citigroup rút khỏi chương trình này là vấn đề lợi nhuận. Ngân hàng này đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính, trong khi đó Bank of America liên tục kinh doanh có lãi.

Dù Citigroup nằm trong nhóm ngân hàng có tiềm lực vốn tốt nhất, các nhà điều tiết vẫn muốn đảm bào thua lỗ tín dụng không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng.

Theo Dân Trí/Businessweek