Showing posts with label Thế giới. Show all posts
Showing posts with label Thế giới. Show all posts

Thursday, 13 January 2011

Người Mỹ nghĩ Trung Quốc là số 1

(BantinForex) - Thật thú vị, trong khi người Mỹ có xu hướng phóng đại quá mức sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, thì Trung Quốc tự hạ thấp mình.

Trong một cuộc khảo sát, 47% người dân Mỹ cho rằng Trung Quốc đứng số 1 về kinh tế, chỉ có 31% nghĩ rằng Mỹ vẫn còn ở vị trí dẫn đầu.

Trong thực tế, nền kinh tế Mỹ lớn gấp 3 lần nền kinh tế Trung Quốc về mặt danh nghĩa, và GDP bình quân đầu người của Mỹ gấp 10 lần của Trung Quốc. Nhưng trong nhận thức của người dân Mỹ về Trung Quốc, những con số đó dường như không quan trọng.

Chẳng ai thắc mắc về việc Trung Quốc dẫn đầu danh sách các quốc gia được coi là "mối nguy hiểm lớn nhất" của Mỹ, đứng trên cả Triều Tiên và Iran.

Trước cuộc họp của Tổng thống Barack Obama và chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào đầu tuần tới, một trong những con số đáng quan tâm nhất đó là tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ đã leo lên gần 10%. Đối với Trung Quốc, con số này chỉ khoảng 4%.

Mỹ đang lo lắng về vấn đề việc làm và Trung Quốc bị coi như là thủ phạm chính. Trung Quốc đã sử dụng chính sách thương mại đẩy mạnh xuất khẩu, dìm giá đồng NDT và sử dụng một số phương pháp không công bằng khác. 53% người dân được hỏi cho rằng Mỹ nên cứng rắn hơn với Trung Quốc về các vấn đề kinh tế và thương mại.

Mỹ thường nói họ cần có một sự cạnh tranh lành mạnh trên toàn cầu để tiếp tục phát triển. Trong những thập niên sau Thế chiến II, Mỹ đối mặt với sự cạnh tranh của Liên Xô cũ. Sau đó, Nhật Bản được coi là mối de dọa trong những năm 1980. Bây giờ đến lượt Trung Quốc.

Với chuyến thăm của ông Hồ Cẩm Đào, chính quyền của ông Obama có phải có một chút thận trọng. Tổng thống Obama phải đạt được một số kết quả cụ thể từ cuộc họp, đặc biệt về vấn đề tiền tệ, để thỏa mãn mong đợi của người Mỹ.

Trong khi đó, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng phải tham dự một cuộc họp cử tri trong nước, được coi là một mối đe dọa lớn cho Mỹ bởi ở những cuộc họp như thế thường không có sự nhượng bộ.

Và cho dù đồng NDT có tăng giá mạnh hơn, và Trung Quốc có đưa ra những quy định đầu tư tự do hơn, thì cũng sẽ không phải là một phép màu kỳ diệu có thể làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp tồi tệ ở Mỹ.

Trong bài phát biểu của mình, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner nói: "Ngay cả khi chúng ta cố gắng kêu gọi cải cách hơn nữa ở Trung Quốc, cần phải hiểu rằng sức mạnh của chúng ta không chỉ sẽ phụ thuộc vào lựa chọn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mà còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của chính chúng ta, trên đất nước của mình”.

Thật thú vị, trong khi người Mỹ có xu hướng phóng đại quá mức sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, thì Trung Quốc tự hạ thấp mình. Một cuộc thăm dò gần đây của Global Times, một tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho thấy chỉ có 12% người được hỏi tin rằng Trung Quốc đã trở thành một siêu cường quốc.

Wednesday, 12 January 2011

Trung Quốc: Người khổng lồ bên cạnh ta

Truyền thống tiết kiệm của dân TQ là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp tích lũy làm giàu của họ. TQ là nước có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất thế giới, và trong 2 thập kỷ qua tỷ lệ đó còn tiếp tục tăng lên.
Vào năm 2010, TQ (Trung Quốc) đã chính thức trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, vượt lên trên Nhật Bản, và đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 1-2 thập kỷ tới.
Sự đi lên của TQ có rất nhiều hệ quả, cho thế giới. Ví dụ như, TQ sẽ thay thế Mỹ trở thành nước có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Đồng tiền Nhân dân tệ của TQ sẽ trở thành một trong các ngoại tệ mạnh được dùng làm ngoại tệ dự trữ trên thế giới, trong khi vai trò của USD thì giảm đi. Nhiều nước, trong đó có VN (Việt Nam), có nguy cơ trở thành rất phụ thuộc vào TQ về kinh tế. Nhưng đồng thời, sự đi lên của TQ cũng có thể kéo VN lên theo.
Bài viết này nhằm phân tích về sự đi lên của TQ trong hơn 3 thập kỷ qua, và những vấn đề của họ, đồng thời đưa ra một số so sánh với VN, và nhằm rút ra một số bài học cho VN.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF) đăng lại một số bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Dũng (ĐH Toulouse - Pháp) trên tạp chí Tia sáng liên quan đến chủ đề này, mời bạn đọc đón xem.
Năm 2008 xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho nhiều nước lao đao, kinh tế đi xuống (tốc độ tăng trưởng âm) trong năm 2009. Nhưng TQ năm 2009 vẫn tăng trưởng ở mức rất cao là 8.7%, một mức mà ở nhiều nước khác lúc kinh tế thuận buồm xuôi gió nhất cũng không mơ đạt được.
Triết lý mèo trắng mèo đen
Chủ tịch Mao Zedong (Mao Trạch Đông1) thành lập nước TQ mới (CHND Trung Hoa) vào năm 1949, và muốn đưa TQ trở thành một cường quốc trên thế giới, dựa trên học thuyết Marx-Lenin cộng với triết lý của Mao, lan tỏa ảnh hưởng đến toàn cầu.
Đến sau năm 1976, khi Chu Ân Lai (Thủ tướng TQ) và Chủ tịch Mao mất, và Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình, sinh năm 1904)2 lên nắm quyền, TQ mới thực sự thay đổi quĩ đạo, bắt đầu giai đoạn phát triển nhanh, để từ một nước nghèo khó trở thành đại cường quốc tranh dành ngôi bá chủ thế giới với Mỹ vào năm 2010.
Đặng Tiểu Bình từng là tướng quân đội và từng làm Phó Thủ tướng. Khi Chủ tịch Mao Trạch Đông mất, Hoa Quốc Phong lên thay đã khôi phục lại Đặng Tiểu Bình, và sau đó họ Đặng với uy tín cao đã trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của TQ.
Trong các câu triết lý thâm thúy của Đặng Tiểu Bình, nổi tiếng nhất có lẽ là câu: Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột. Từ lúc Đặng Tiểu Bình lên, TQ đã áp dụng triệt để triết lý này, rũ bỏ các chính sách nặng màu "hệ tư tưởng" (ideology), và lập nên các chính sách "thực dụng" (pragmatic) nhằm giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm, trong đó đặc biệt là phát triển kinh tế và ổn định xã hội TQ, khiến thế giới phải nể sợ.
Một số biểu hiện cụ thể của học thuyết "mèo trắng mèo đen" là:
- Từ năm 1978, TQ bắt đầu đợt cải cách triệt để về kinh tế3. Chủ nghĩa tư bản hay kinh tế thị trường không bị coi là xấu nữa, cho phép kinh tế tư nhân, miễn sao phát triển được kinh tế.
Các hợp tác xã nông nghiệp (mô hình nông nghiệp XHCN) được xóa đi, phân lại đất cho nông dân tư hữu nhằm tăng sản lượng nông nghiệp. Vào năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm đến 70% nền kinh tế TQ (tuy nhiên, cần hiểu rằng, các hãng gọi là "tư nhân" ở TQ, Nhà nước vẫn chiếm cổ phần khá lớn).
- Về mặt đối ngoại, TQ quan hệ với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ thế lực cầm quyền nào, miễn sao điều này có lợi về kinh tế cho họ.
Theo triết lý "mèo trắng mèo đen", thì tên gọi tư bản hay cộng sản không quan trọng, miễn sao trở thành giàu có quyền lực. Trên thực tế, ở TQ ngày nay, phần lớn các nhà tư bản của TQ là "tư bản đỏ", tức là từ Đảng Cộng sản mà ra. Theo một tin của Tân Hoa Xã TQ đưa ra vào tháng 10/2006, trong số 3.220 tỷ phú (tiền nhân dân tệ) tại TQ, có đến 2.932 "hoàng tử đỏ", tức là con cháu của các lãnh đạo cao cấp của Đảng, chiếm 91%!
Truyền thống tiết kiệm
Truyền thống tiết kiệm của dân TQ là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp tích lũy làm giàu của họ. TQ là nước có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất thế giới, và trong 2 thập kỷ qua tỷ lệ đó còn tiếp tục tăng lên.
Nếu như vào thời điểm 1990, tỷ lệ tiết kiệm của TQ là khoảng 39%, thì con số đó tăng lên đến mức 53% vào năm 2008, tức là tư nhân và Nhà nước chỉ tiêu thụ 47% tổng tài sản làm gia, còn lại là tiết kiệm. Để so sánh, cũng quãng năm 2008, tỷ lệ tiết kiệm ở Ấn Độ đạt khoảng 30%, ở Việt Nam đạt khoảng 35%, còn ở các nước tư bản phát triển thì thấp hơn, chẳng hạn ở Pháp đạt khoảng 20%, và ở Mỹ chỉ khoảng 13%.
Nếu chỉ tính tư nhân, thì tỷ lệ tiết kiệm của tư nhân (thu nhập trừ đi chi tiêu của tư nhân) ở TQ vào năm 2008 vào quãng 28%, so với các nước khác: Ấn Độ 32% (tăng lên mạnh từ mức 20% vào năm1998), Pháp 15%, Đức 11%, và ở Mỹ chỉ có hơn 2%.
Các khoản tiết kiệm được thể hiện ở đâu?
Nó thể hiện ở những tài sản bền vững tồn tại lâu dài và những khoản đầu tư, như nhà cửa, công ty, máy móc, khoa học và công nghệ mới, v.v., và những khoản đầu tư ra nước ngoài: các công ty ở nước ngoài, các dự trữ tài nguyên mua được của nước ngoài, các khoản cho nước ngoài vay, v.v. Tổng cộng các khoản đầu tư của TQ ra nước ngoài có thể ước lượng cỡ vài nghìn tỷ USD.
Riêng các khoản TQ cho Mỹ vay (chủ yếu dưới hình thức mua trái phiếu) đã lên tới một con số khổng lồ là 1.700 triệu USD vào năm 2010. Ngoài ra, TQ còn mua quyền khai thác hay mua các công ty khai thác dầu mỏ, khoáng sản, rừng, đất nông nghiệp, v.v. ở khắp mọi nơi trên thế giới, và còn mua cổ phần hay mua đứt nhiều công ty nước ngoài.
Một ví dụ gần đây: hãng xe Geely của TQ, có tiếng xấu là sản xuất xe không đảm bảo độ an toàn, vào năm 2010 đa mua đứt lại hãng xe Volvo, một hãng nổi tiếng về chất lượng xe tốt. Công ty đầu tư CIC (China Investment Corporation) của Chính phủ TQ nắm trong tay 300 tỷ USD để đi đầu tư các nơi trên thế giới.
Có tiết kiệm thì mới có tiền đầu tư (mà không phải vay nợ), và tỷ lệ đầu tư cao thì tăng trưởng kinh tế nhanh. Nếu giả sử là số tiền đầu tư mới mỗi năm ở TQ tương đương với 40% GDP, và chỉ số hiệu quả đầu tư ICOR là 45, thì đủ để cho TQ giữ được tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm. (Đây là ví dụ minh họa chứ không hẳn là con số thực tế, nhưng cho thấy ảnh hưởng của mức tiết kiệm và đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế, chưa tính đến các đầu tư của TQ ở nước ngoài mang về lợi nhuận mà không hiện lên trong GDP).
Khi có tiền tiết kiệm, dự trữ, thì nền kinh tế cũng an toàn, ổn định hơn là nếu đi vay để đầu tư và tiêu xài.

Đó chính là do TQ có nhiều tiền dự trữ, có thể tung ra gói kích cầu khổng lồ 600 tỷ USD vào cuối năm 2008 để kích thích kinh tế (trong khi các nước khác cũng muốn kích cầu, nhưng không có tiền để có thể làm mạnh như vậy). Khủng hoảng tài chính 2008 đã làm cho các nước ''tư bản già cỗi'' cũng như một loạt các nước đang phát triển yếu đi, nhưng lại làm cho TQ mạnh lên, nhờ thế mạnh dự trữ tài chính của họ.
Vì sao tỷ lệ tiết kiệm ở TQ lại rất cao, không những cao hơn rất nhiều so với các nước giàu, mà còn cao hơn nhiều so với cả các nước nghèo?
Thứ nhất là truyền thống cần kiệm của người TQ: có thể làm việc rất nhiều mà không kêu ca, và có tinh thần tiết kiệm cao. Kể cả các Hoa kiều sống ở các nước giàu, có thu nhập cao, nhưng vẫn giữ thói quen tiết kiệm: nhiều khi ghế rách còn ngồi được thì vẫn dùng mãi không chịu vứt đi thay cái khác.
Thứ hai là, tuy thu nhập bình quân đầu người ở TQ hiện nay đã vào loại khá, không còn là nước nghèo nữa, nhưng phân chia rất không đều: có một tỷ lệ nhỏ người giàu lên nhanh, với mức sống không kém gì phương Tây ở các thành phố lớn; nhưng phần lớn dân số (đặc biệt là những người ở vùng nông thôn) vẫn rất nghèo và sẵn sàng lao động với mức lương rẻ mạt chưa bằng 1/10 so với mức lương phương Tây cho cùng công việc. Lực lượng đông đảo đó không có nhiều tiền để tiêu dùng, và do vậy mức tiêu dùng chung ở TQ thấp.
Một lý do nữa là, đồng RMB (Nhân dân tệ) được giữ ở giá thấp so với USD góp phần làm giảm lượng tiêu thụ hàng ngoại ở TQ.
Một báo cáo của IMF (Quĩ Tiền tệ quốc tế) năm 20096 viết như sau: mức tiết kiệm tư nhân cao chưa chắc đã phải là điều tốt. Nó có thể là dấu hiệu của một hệ thống bảo hiểm xã hội tồi, khiến cho người dân buộc phải tiết kiệm để đề phòng lúc cơ nhỡ. Và nó cũng có thể chứng tỏ là quản lý doanh nghiệp kém, khiến cho các doanh nghiệp có thể giữ lại phần lớn lợi nhuận mà không chịu chi trả cho cổ đông.
Có những người viện vào những lý do như trong báo cáo IMF nhắc tới phía trên để coi nhẹ đi tầm quan trọng của tỷ lệ tiết kiệm cao ở Trung Quốc. Họ còn cho rằng nước Mỹ, một nước hiện có mức tiết kiệm vào loại thấp nhất thế giới, nếu tăng tiết kiệm lên sau đợt khủng hoảng tài chính 2008 thì sẽ chậm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng (?!).
Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm sụt giảm ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ qua (nhân dân ''được'' thúc đẩy tiêu dùng quá nhiều, quá khả năng, theo kiểu ''xã hội tiêu thụ'') chính là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút thế lực kinh tế của Mỹ so với thế giới, nợ nước ngoài và thâm thụt cán cân thương mại trầm trọng của Mỹ trong những năm qua.
Nếu Mỹ vực kinh tế dậy bằng cách tiếp tục kích thích tiêu pha quá khả năng, không tiết kiệm (như lời khuyên của một số nhà kinh tế), thì chỉ là đào hố sâu thêm cho mình.
Đối với các nước đã phát triển, vẫn phải giữ một tỷ lệ tiết kiệm tương đối (ví dụ như Pháp và Đức, với tỷ lệ tiết kiệm tương đối lớn), mới giữ được sự phát triển bền vững (thu nhập ít nhưng chi phí thấp, có nhiều của cải dự trữ thì cuối cùng vẫn giàu hơn là thu nhập cao nhưng chi phí cao, không có dự trữ). Muốn phát triển nhanh, từ nghèo khó trở nên giàu có, thì phải tiết kiệm nhiều. TQ hiểu rất rõ vấn đề này.

Shenzhen9 (Thâm Quyến, thuộc tỉnh Quảng Đông, gần Hồng Kông), ví dụ điển hình của vùng kinh tế đặc biệt, trong vòng 20 năm đã biến từ một làng nhỏ thành một thành phố trù phú và là trung tâm tài chính với 10 triệu dân. (Ảnh lấy từ internet)
Trong những năm tới, khi hàng hóa TQ trên các thị trường quốc tế đã bão hòa, TQ sẽ buộc phải tăng tiêu thụ nội địa nếu muốn tiếp tục phát triển sản suất, không thì tất yếu sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa. Điều này kéo theo là mức tiết kiệm của TQ sẽ phải giảm dần đi. Đến lúc mà TQ đạt thu nhập bình quân đầu người ngang bằng với các nước giầu hiện nay, thì tỷ lệ tiết kiệm cũng sẽ phải giảm đến một "mức tiết kiệm theo nguyên tắc vàng" (golden rule saving rate)7
Sức mạnh tỷ người
Vào năm 2010, nước TQ có 1.340 triệu người, đông nhất thế giới, và bằng 20% của toàn thế giới. "Sức mạnh tỷ người" này là một lợi thế lớn của TQ trên trường quốc tế. Với dân số đông gấp hơn 4 lần Mỹ, chỉ cần đạt mức thu nhập bình quân đầu người bằng 1/4 Mỹ cũng sẽ đủ để TQ vượt lên trên Mỹ thành nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Đối với các doanh nghiệp xuyên quốc gia (multi-national), thì thị trường TQ là quá lớn để mà có thể bỏ qua, và doanh nghiệp nào cũng mơ ước chiếm lĩnh được thị trường này. Bởi vậy, từ khi cải cách kinh tế và mở cửa vào năm 1978 và thiết lập các "vùng kinh tế đặc biệt''8 (những vùng mà nước ngoài được đầu tư trực tiếp, với các luật lệ ưu đai tự do hơn các vùng còn lại) từ những năm 1980, TQ đã không khó khăn gì trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài.
Biết được lợi thế thị trường lớn của mình, nên TQ có thế mạnh trong đàm phán thương mại với nước ngoài. Thông thường, để vào được thị trường TQ, các hãng phải nhân nhượng về chuyện chuyển giao công nghệ cho TQ, và lắp đặt sản phẩm tại TQ.
Ví dụ, đi kèm thỏa thuận mua máy bay A320 của Airbus, TQ đạt được thỏa thuận lắp máy bay đó tại TQ, trong một công ty với 49% vốn thuộc về TQ. Chiếc A320 đầu tiên sản xuất tại TQ đa ra lò năm 2009.
Thị trường nội địa lớn cũng giúp cho các công ty TQ, đặc biệt là trong các lĩnh vực cần có "economy of scale'', dễ tồn tại và phát triển. Tất nhiên, dân số đông quá thì không những chỉ có lợi, mà cũng có thể có hại, vì bùng nổ dân số kéo theo nhiều vấn đề về xã hội và môi trường, và đông dân quá thì không đủ của cải và tài nguyên thiên thiên để mà thỏa mãn các nhu cầu. Chính phủ TQ cũng nhận thấy là nước họ đa đông dân đến mức báo động, và trong nhiều năm kể từ 1979 áp dụng khắt khe chính sách 1 con nhằm hạn chế tăng dân số. Theo ước tính, chính sách 1 con đã làm bớt đi 250 triệu lượt sinh đẻ ở TQ trong quãng thời gian từ 1979 đến 2000 (tức là nếu không có chính sách này, thì dân số TQ sẽ còn tăng thêm 250 triệu người nữa)10. Nếu như trong vòng 50 năm 1950-2000, dân số TQ tăng hơn gấp đôi, từ 550 triệu lên hơn 1.200 triệu, thì dự kiến trong giai đoạn 2000-2050, dân số TQ sẽ chỉ còn tăng thêm khoảng 10%, và có nhiều khả năng giảm đi kể từ 2030.

Biểu đồ dân số TQ (lấy từ internet)
Không nhất thiết phải đông dân mới lợi thế và phát triển được, mà còn phụ thuộc vào tổ chức nội bộ tốt và đối ngoại khôn khéo. Ví dụ, Thụy Sĩ chỉ có 8 triệu dân nhưng là một trong các nước giàu có và hạnh phúc nhất thế giới.
Nhưng dù sao, đất rộng người đông hơn các nước khác là một lợi thế không nhỏ trong các quan hệ đối ngoại, nếu như giữ được đất nước thống nhất và chính quyền Trung ương mạnh. Cái mà TQ sợ là đất nước "chia 5 xẻ 7", như đã từng xảy ra trong lịch sử TQ, sẽ làm TQ yếu đi.

Tại sao Facebook không muốn niêm yết đại chúng?

Sau khi được định giá lên đến 50 tỷ đôla Mỹ, Facebook đã nổi bật hơn hẳn những gã khổng lồ một thời là Yahoo! hay eBay. Tuy vậy, Facebook vẫn chưa muốn niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Tin Goldman Sachs đã rót 450 triệu đôla và cam kết đầu tư tiếp 1 tỷ đôla nữa vào công ty được định giá 50 tỷ đôla này đã gây chấn động thị trường.
Người ta đổ dồn sự chú ý về bản thỏa thuận giữa Facebook và Goldman Sachs và ngầm đoán rằng chỉ trong nay mai, theo quy định của Ủy ban Chứng Khoán và Hối Đoái, sau khi chạm đến ngưỡng 500 cổ đông, Facebook sẽ phải định kỳ công bố các thông tin tài chính.
Hiện giờ, Facebook đang muốn ghìm quá trình này lại càng lâu càng tốt. Chủ tịch của Facebook cùng ban điều hành tập đoàn không hề muốn những hệ lụy không tránh khỏi từ việc trở thành một công ty đại chúng như sự soi xét, kiểm tra và gây nhiễu. Những người đứng đầu của Google là Larry Page và Sergey Brin cũng đã từng cương quyết như vậy.
Nhưng tất nhiên, hiện giờ, Google cuối cùng cũng đã phát hành cổ phiếu rộng rãi và niêm yết trên thị trường chứng khoán. Quyết định này xuất phát không chỉ từ yêu cầu về vốn của công ty mà còn bởi số lượng cổ đông của tập đoàn đã chạm qua mức 500 cổ đông. Trong số các cổ đông, những nhân viên và nhà đầu tư đầu tiên (có thể bao gồm cả Larry và Sergey) cũng muốn thu lợi nhuận về từ cổ phiếu công ty.
Facebook rồi cũng sẽ gặp phải những áp lực tương tự nhưng có lẽ, chủ tịch Zuckerberg sẽ đấu tranh quyết liệt hơn Google để duy trì trạng thái hiện tại của tập đoàn. Với quy mô và tầm ảnh hưởng đang lên của một công ty tầm cỡ quốc gia và quốc tế, Facebook có thể làm hết sức mình để tránh mọi nguy cơ bị đưa lên sàn chứng khoán Nasdaq hay sở chứng khoán New York.
Nguyên nhân không đơn thuần là việc niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ đặt ra đòi hỏi tổ chức tham gia (Facebook) phải công bố các thông tin tài chính (thứ vốn đã bị rò rỉ từ thương vụ Goldman).
Vài năm trở lại đây, công ty kiểm toán Grant Thornton đã cảnh báo rằng thị trường với các công ty phát hành cổ phiếu lần đầu đã tan rã. Theo Grant Thornton, nguyên nhân chủ chốt vẫn là do sự thay đổi cơ chế vận hành của thị trường chứng khoán: không phải bởi những quy định ngặt nghèo của Luật Cải Cách Tài Chính của Các Công Ty Đại Chúng và Bảo Vệ Quyền Lợi Nhà Đầu Tư hay các quy định chặt chẽ đối với việc công bố mà bởi mọi hoạt động của thị trường giờ đã được ...tự động hóa.

Nói chung, các nhà kinh tế và các nhà lập pháp đã từng tin rằng người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh và giảm chi phí giao dịch. Bên cạnh đó, khi tính đến các khoản đầu tư, chi phí ban đầu hay phí giao dịch bị đội lên cùng cơ cấu thuế vốn ngăn chặn hoạt động đầu cơ (ngắn hạn) có thể phần nào hạn chế hoạt động đầu cơ và khuyến khích đầu tư (mua và giữ lại).
Điều này vốn là yếu tố cần thiết để tránh vòng luẩn quẩn bùng nổ rồi khủng hoảng và duy trì cơ sở hạ tầng cần thiết cho môi trường đầu tư lành mạnh. Khi thị trường không còn đòi hỏi chi phí giao dịch cao, rất nhiều nhà đầu tư sẽ có xu hướng tham gia vào hoạt động đầu cơ.
Trong số tháng 1 đăng trên tờ Wired, Felix Salmon và Jon Stokes mô tả thị trường chứng khoán giờ đây đã quá lệ thuộc vào các giao dịch dựa trên quy trình xử lý các thuật toán một cách chớp nhoáng trên máy tính. Các chuyên gia máy tính cho rằng thị trường ngày càng trở thành một hệ thống vận hành dựa trên việc áp dụng chế độ tự động hóa cao. Nói cách khác, thị trường không còn vận hành (lên, xuống) và được phản ánh theo từng quyết định của nhà đầu tư mỗi khi họ đặt lệnh vào các công ty mà được điều hành từ các mô hình xử lý từ máy tính.
Những ai trăn trở về sự chuyển đổi này sẽ xoáy sâu vào mối nguy đến từ các tác động phản hồi cùng các sự cố bất thường. Nhìn lại sự cố đã xảy ra năm vừa rồi, chúng ta nhận thấy những nguy cơ này là có thật. Grant Thornton lập luận rằng những thị trường có quy mô và có hiệu quả cao quá mức như vây sẽ ngày càng tác động tiêu cực đến những công ty đã niêm yết và thực tế, những công ty nhỏ hơn, mới hơn và ít bề thế hơn (đương nhiên, cũng rất tiềm năng) là những công ty chịu trận.
Từ lâu, người ta đã nhận thấy rằng thị trường hiệu quả hơn và có tính thanh khoản cao hơn chưa hẳn đã tốt. Năm 1994, Amar Bhide' đã từng phát biểu như vậy trên trang Harvard Business Review và có thể nhiều người khác cũng có nhận xét tương tự. Nhưng qua thời gian, dòng dư luận này đã chìm đi cùng với sự thành công của chủ nghĩa tư bản tài chính Mỹ. Giờ đây, người ta lại quay lại lập luận này và dòng dư luận này sẽ không sớm lắng đi như trước. Ít nhất là cho đến khi Facebook và nhiều công ty khác vẫn còn cương quyết ngăn chặn việc đưa công ty lên sàn chứng khoán.
Thị trường Chứng Khoán và Hối Đoái có thể sẽ thay đổi để thích ứng với những công ty như thế. Toàn bộ quy định đối với chứng khoán của chúng ta được lập từ những năm 1930 nhằm mục đích bảo về các nhà đầu tư nhỏ khỏi sự thôn tính của những nhà phát hành và môi giới. Nhưng ngày nay, các nhà đầu tư thông thường có quy mô lớn, thậm chí họ là các định chế tài chính hoặc họ ngày càng phó mặc cho máy tính thực hiện quá trình đấu giá. Đây có lẽ là những đối tượng không cần phải chăm sóc.

Tuesday, 11 January 2011

Thái Lan triển khai biện pháp hỗ trợ dân lao động

 Chính phủ Thái Lan hôm 11/1 đã thông qua một gói hỗ trợ phúc lợi xã hội, trong một động thái bị các nhà chỉ trích đánh giá là một "chiêu" lấy lòng cử tri trước cuộc bầu cử quan trọng.

Theo gói hỗ trợ này, các tài xế taxi, những người bán hàng rong đồ ăn ven đường và nông dân sẽ được vay tiền với lãi suất thấp. Họ sẽ được cung cấp điện miễn phí để sử dụng, được hỗ trợ 30 baht (1USD)  trên mỗi lít dầu diesel và các lợi ích an sinh xã hội cũng sẽ được mở rộng cho hàng triệu người Thái có thu nhập thấp.

Stephen Walt: Thế đối trọng ở châu Á không dễ khả thi

Giả sử rằng Trung Quốc tiếp tục phát triển kinh tế, điều này sẽ tác động ra sao tới cục diện chiến lược tại châu Á?
GS Stephen Walt giảng dạy Quan hệ quốc tế tại Trường Hành chính Kennedy, ĐH Harvard. Ông sẽ sang Việt Nam phát biểu tại Lễ công bố 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2010 ngày 15 tháng 1 tới.
Tôi đã viết một bài về chủ đề này nhan đề "Mỹ Trung và thế đối trọng ở Châu Á", nhưng trước một số diễn biến gần đây và sau khi đọc một số tài liệu nghiên cứu liên quan, tôi có chút cân nhắc lại.
Qua chủ nghĩa hiện thực mới, chúng ta có thể có được một câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi trên: Khi sức mạnh Trung Quốc ngày càng gia tăng, các quốc gia châu Á khác sẽ dịch chuyển sang vị trí đối trọng với nó bằng cách đầu tư thêm vào an ninh quốc gia và thắt chặt thêm các mối quan hệ an ninh với nhau và với các cường quốc bên ngoài như Mỹ.
Về bản chất, giải thích trên chỉ thuần túy thiên về "cán cân sức mạnh", nhưng có lẽ như vậy vẫn chưa phải là cách tốt nhất để giải thích cho việc tại sao lại hình thành các liên minh. Trong tương lai ngắn và trung hạn, mức độ đối trọng của các quốc gia châu Á sẽ không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh của Trung Quốc mà còn phụ thuộc vào nhận thức của họ về cấp độ nguy hiểm. Bản thân cấp độ nguy hiểm lại không chỉ chịu tác động từ những năng lực tổng hợp của Trung Quốc (VD: GDP, chi tiêu quốc phòng,... của nước này); nó còn bị ảnh hưởng của 1) Địa lý, 2) Năng lực tấn công quân sự, và 3) Quan điểm của các quốc gia đó về các ý định của Trung Quốc.
Cụ thể hơn, các quốc gia ở gần Trung Quốc sẽ cảm thấy lo lắng hơn so với các quốc gia ở xa. Những nước có chung đường biên giới với Trung Quốc (như Việt Nam) sẽ phải e dè trước sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Quốc hơn các nước ở cách biển (như Indonesia) bởi vì sẽ khó phóng tầm sức mạnh qua  biển hơn. (Đài Loan là trường hợp đặc biệt, vì giữa hai nhà nước này có lịch sử quan hệ đan chéo phức tạp và có khoảng cách địa lý tương đối gần).
Thêm nữa, cấp độ nguy hiểm của Trung Quốc sẽ phụ thuộc một phần vào cách họ huy động sức mạnh kinh tế đang lên của mình. Nếu họ tiến hành xây dựng các năng lực quân sự chủ yếu nhằm bảo vệ lãnh thổ, thì các quốc gia láng giềng sẽ ít bị cảm thấy đe dọa hơn, từ đó giảm đi ý định cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Ngược lại, nếu Trung Quốc phát triển các năng lực phóng tầm sức mạnh tiêu biểu của các cường quốc lớn trên thế giới (như lực lượng hải quân và không quân, tên lửa tầm xa, thủy lục không quân,...),  các quốc gia khác trong khu vực sẽ phải quan ngại về mục đích sử dụng của những năng lực đó, và có nhiều khả năng họ sẽ phối hợp với nhau (và với Mỹ) để bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình.

Dĩ nhiên, khi Trung Quốc càng tham gia sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và càng phụ thuộc vào các nguồn lực cũng như thị trường nước ngoài, lợi ích của việc xây dựng các năng lực quân sự có thể hoạt động tại những khu vực ở xa càng nâng cao. Do đó, tôi cho rằng các lực lượng phóng tầm sức mạnh của Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển, và xu hướng này sẽ càng củng cố thêm cho các xu hướng cân bằng quyền lực.
Cuối cùng, cấp độ nguy hiểm cũng được đánh giá phụ thuộc vào việc các quốc gia khác coi Trung Quốc là một cường quốc tham vọng, muốn thay đổi lịch sử, hay chỉ muốn duy trì hiện trạng trong khu vực. Xét từ góc độ này, việc Trung Quốc chuyển sang đường lối ngoại giao cứng rắn với các nước láng giềng - chẳng hạn mới rồi, họ vừa khẳng định rằng Biển Đông là một "lợi ích trọng tâm" và thể hiện rõ thái độ muốn làm giảm vai trò của Mỹ tại đây -  đã đi ngược lại hoàn toàn với những khẳng định trước đó của họ về một sự "phát triển trong hòa bình".
Cũng có thể nhận thấy xu hướng ngoại giao "rắn" của Trung Quốc trong vụ tranh cãi gần đây giữa nước này với Nhật Bản xung quanh việc bắt giữ một tàu đánh cá của Trung Quốc. Bắc Kinh càng "giương vây" thì các nước láng giềng của họ càng cảm thấy lo lắng và xích lại gần nhau để hỗ trợ lẫn nhau.
Tóm lại, khả năng đối trọng của các quốc gia láng giềng sẽ không chỉ phụ thuộc vào riêng năng lực kinh tế của Trung Quốc; cách Trung Quốc sử dụng các năng lực đang lên của mình cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn ở đây.
Tuy nhiên, xu hướng đối trọng không diễn ra một cách tự động, cho dù cấp độ nguy hiểm có tăng lên đi chăng nữa. Sau đây là một số yếu tố cần lưu ý khi dự đoán tương lai cục diện châu Á.
Thứ nhất, bất kỳ liên minh đối trọng nào ở châu Á cũng sẽ phải đối mặt với những nan giải trong việc phối hợp hành động. Tuy rằng có thể nhiều quốc gia châu Á cùng có chung nỗi lo về một mối đe dọa mang tên Trung Quốc, song họ cũng đều muốn đùn đẩy trách nhiệm sang cho nhau và ngồi hưởng thụ trên những nỗ lực của người khác. Điều này cũng có thể bao gồm cả xu hướng vừa làm đối trọng (phần nào) lại vừa tìm cách gây dựng các mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Vấn đề này còn nghiêm trọng hơn khi xét đến những tranh cãi tồn tại dai dẳng lâu nay giữa các đối tác liên minh tiềm năng (như Nhật Bản và Hàn Quốc), cùng những nỗ lực triển khai trò chơi "chia để trị" của một nước Trung Quốc.
Thứ hai, Mỹ sẽ có một vai trò thiết yếu ở đây, nhưng để làm tròn vai trò này, Mỹ cần phải suy tính thật kỹ lưỡng và có đường lối ngoại giao khéo léo. Một mặt, khả năng làm đối trọng với Trung Quốc của các quốc gia châu Á sẽ nâng cao hơn nếu họ biết rằng có Mỹ đứng sau hỗ trợ. Mặt khác, nếu quá chắc chắn về sự hậu thuẫn của Mỹ, họ sẽ có thái độ muốn "ngồi mát ăn bát vàng", từ đó đóng góp quá ít cho nỗ lực phòng thủ chung. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách Mỹ sẽ phải biết cân bằng giữa việc trấn an vừa đủ với các đối tác châu Á rằng cán cân đối trọng sẽ có tác dụng, nhưng đồng thời cũng phải "chừa" ra những khoảng trống nghi ngại để Washington sẽ không phải độc diễn suốt chặng đường.
Thêm nữa, do các liên minh với Mỹ sẽ cố tìm cách khiến Mỹ phải làm nhiều hơn nữa bằng việc liên tục chất vấn về mức độ tin tưởng của những cam kết của Mỹ, nên việc quản lý các liên minh châu Á sẽ cần đến sự kết hợp khéo léo giữa việc thương lượng "rắn" và chính sách ngoại giao hỗ trợ.
Tuy nhiên, Washington cũng nắm đằng chuôi: Suy cho cùng, sức mạnh đang lên của Trung Quốc gây nhiều lo lắng cho các quốc gia láng giềng của họ hơn là cho Mỹ, và Mỹ hoàn toàn có thể thực hiện một cuộc thương lượng hiệu quả trong việc phân bổ các chi phí và lợi ích của bất kỳ liên minh đối trọng nào.
Thứ ba, nếu có ai đó muốn có cái nhìn dài hơi hơn, và giả sử rằng sự phát triển của Trung Quốc sẽ không gặp bất kỳ trở ngại nào, khi đó nỗ lực đối trọng trong khu vực như miêu tả ở trên có thể trở thành một nhiệm vụ bất khả thi. Việc Mỹ cân bằng quyền lực với Liên Xô trước đây được một phần là do nền kinh tế Liên Xô lúc đó đang ngày càng trở nên suy yếu và kém hiệu quả hơn so với nền kinh tế Mỹ; tức là chúng ta phát động cuộc Chiến Tranh lạnh với một kẻ thù ngày càng hạn chế về tiềm năng.
Nhưng nếu Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, và nếu thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, tạo ra thêm nhiều thằng dư giúp chính phủ nước này có thể đầu tư nhiều hơn cho các mục đích phục vụ chính sách ngoại giao của mình, các lợi thế mà Mỹ có được trong Chiến tranh thế giới I, Chiến tranh thế giới II, và cuộc Chiến Tranh Lạnh sẽ bị giảm đi đáng kể, thậm chí là biến mất. Dần dần, một số quốc gia châu Á sẽ chọn cách trở thành liên minh với Trung Quốc, mở đường cho sự vươn xa của tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tương tự như tầm ảnh hưởng của Mỹ tại Tây bán cầu.
Tuy nhiên, giả định trên hoàn toàn không chắc chắn, và cá nhân tôi không cho rằng điều đó sẽ xảy ra trước khi tôi nghỉ hưu. (Xin lưu ý: Tôi còn có ý định làm việc lâu dài). Nhưng nếu nước Mỹ tiếp tục phung phí sức mạnh của mình vào những cuộc chiến vô bổ mà quên ổn định tình hình trong nước, ngày đó sẽ không còn xa. Tôi không nghĩ rằng những vết thương tự mình gây ra đó sẽ không ngừng tái diễn, nhưng tôi không thể hoàn toàn loại bỏ những suy nghĩ đó khỏi tâm trí mình được.

Playboy thành công ty tư nhân

58 năm sau ngày sáng lập, Playboy giờ đây lại quay về thành công ty tư nhân dưới quyền ông trùm Hugh Hefner, theo một hợp đồng vào hôm qua.
>Chân dung triệu phú Playboy/Playboy mạnh tay đầu tư vào châu Á

Từ trước đến nay, Hugh Hefner vẫn là cổ đông lớn nhất của công ty giải trí Playboy Enterprises, nắm 69,5% cổ phiếu có quyền biểu quyết và 27,7% cổ phiếu không có quyền biểu quyết.
Tuy vậy, Hefner luôn ấp ủ dự định tái đưa Playboy thành một công ty tư nhân như ban đầu. Hôm qua, ông đã giành quyền kiểm soát chỗ cổ phiếu còn lại với giá 6,15 USD mỗi cổ phiếu. Theo thỏa thuận này, công ty giải trí được định giá 210 triệu USD. Sau tin này, lập tức giá cổ phiếu của Playboy nhảy vọt 17% trên sàn New York cuối ngày hôm qua.
Ông trùm 84 tuổi Hugh Hefner cùng vị hôn thê thứ ba mới đính hôn cách đây một tháng. Ảnh: AP
"Với bước chuyển đổi này, Playboy sẽ trở về với bản chất của nó là một công ty tư nhân", ông trùm Hefner phát biểu, "Tôi tin tưởng rằng từ nay chúng tôi sẽ có cơ hội mở rộng kinh doanh trên toàn cầu".
CEO của Playboy cho biết theo lộ trình tiếp theo, họ sẽ chuyển đổi tạp chí khiêu dâm thành công ty quản lý thương hiệu. Công ty sẽ đẩy mạnh hợp tác với các hãng quần áo, sòng bạc và câu lạc bộ về quyền sử dụng tên gọi Playboy cùng hình ảnh "đôi tai thỏ".
Hồi 1953, Hefner sáng lập công ty với vẻn vẹn 600 USD trong túi. Sau khi đăng ảnh nude của cô đào danh tiếng Marilyn Monroe, ngay lập tức Playboy vụt lên thành hiện tượng. Trong vòng chưa đến 10 năm sau đó, tạp chí này đã biến Hefner thành đại gia với hàng tá cô gái trẻ vây quanh.
Tuy nhiên, đến năm 1971 khi Playboy niêm yết ra công chúng, sự cạnh tranh từ các đối thủ khiến ông trùm Hefner rơi vào thời kỳ thoái trào, có lúc phải bán cả máy bay riêng cùng điền sản để trang trải nợ nần.
Các nhà chuyên môn đánh giá xét về mặt kinh tế, hình tượng tai thỏ vẫn thừa sức hái ra tiền. Tuy nhiên Playboy hiện tại vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng. Trong quý 3/2010, công ty thông báo con số lỗ 27,4 triệu USD. Lượng phát hành tạp chí trên toàn cầu cũng giảm một phần ba trong nửa đầu năm ngoái.
Hiện ông già 84 tuổi Hugh Hefner là chủ bút kiêm Giám đốc sáng tạo của công ty giải trí Playboy Enterprises. Bên cạnh xuất bản tạp chí, sản xuất chương trình truyền hình, công ty này tham gia nhiều mảng kinh doanh khác. Các hãng thời trang, sòng bạc, hay chương trình giải trí sử dụng hình ảnh đôi tai thỏ đều phải trả tiền cho Playboy.